Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đại tướng Lê Đức Anh là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam, vị Chủ tịch nước đã có nhiều đóng góp công sức cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thế kỷ XX.
Việc nghiên cứu những hoạt động của đồng chí Lê Đức Anh trong những năm đầu tham gia cách mạng (1937 – 1945) không chỉ góp phần đúc kết, truyền thụ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn mà còn góp phần giáo dục tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước bị mất độc lập, nhân dân mất tự do, phải chứng kiến cảnh người dân nô lệ sống cơ cực dưới chế độ thực dân, phong kiến đã thôi thúc người thiếu niên trẻ tuổi sớm dấn thân vào con đường đấu tranh cách mạng, cứu nước, cứu dân.
Tháng 7/1935, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản đã đề xướng việc thành lập Mặt trận nhân dân rộng rãi chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân chủ bảo vệ hòa bình và cải thiện thời đời sống nhân dân. Ngày 17/6/1935, Mặt trận Bình dân Pháp được thành lập. Tình hình chính trị – xã hội ở nước ta có chuyển biến quan trọng khi Mặt trận Bình dân ở Pháp thắng cử (4/1936), Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp cử phái viên sang điều tra tình hình kinh tế – xã hội ở các nước thuộc địa, trong đó có các nước ở Đông Dương. Sự kiện này đã tạo những thuận lợi quan trọng cho cách mạng nước ta. Tháng 7/1936, Hội nghị Trung ương Đảng họp, đề ra chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế (đến tháng 3/1938 đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương) chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, cơm áo, dân chủ và hòa bình. Một phòng trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ được phát động rộng khắp theo tinh thần mà Trung ương Đảng đã chỉ ra. Chính trong thời gian này, trong nhận thức và tư tưởng của chàng trai trẻ Lê Đức Anh bắt đầu có sự chuyển biến, giác ngộ cách mạng: “Trong tôi lúc đó xuất hiện một khao khát, tuy còn mơ hồ, chưa rõ nét, nhưng nó đang lớn dần. Từ không khí của phong trào dân chủ, sự hiểu biết của tôi cũng được nâng lên rất rõ”. Từ những nhận thức ban đầu đó, cùng với hơi thở của phong trào cách mạng tại địa phương đang ngày đêm tác động trực tiếp đến suy nghĩ và hành động của chàng thanh niên Lê Đức Anh. Thời gian này, đồng chí Lê Đức Anh thường xuyên theo dõi, tìm đọc các tài liệu về hoạt động của phong trào cộng sản quốc tế, tìm hiểu các vấn đề về giai cấp, về chủ nghĩa tư bản, về Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Bình dân của nước Pháp… Đây là cơ sở ban đầu hình thành những nhận thức của đồng chí Lê Đức Anh về chính trị – xã hội và dần làm sâu sắc khát khao ban đầu còn mơ hồ của ông bằng mong muốn “làm một điều gì đó cùng với người dân lam lũ… thay đổi cuộc sống lầm than cơ cực”.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn, Đảng ta đã khẳng định việc thành lập Mặt trận Dân chủ là một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng. Trong thư gửi Mặt trận nhân dân Pháp, Chính phủ Pháp, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa và Toàn quyền Đông Dương (8/1937), Đảng Cộng sản Đông Dương công khai nói rõ mục đích của mình là: “Đảng chúng tôi thành thực tuyên bố rằng trong giai đoạn lịch sử hiện thời ở Đông Dương, chúng tôi lấy việc lập Mặt trận Dân chủ chống thế lực thuộc địa phản động, đòi các quyền tự do, dân chủ đơn sơ cho toàn xứ Đông Dương là nhiệm vụ cao hơn hết”. Trong thời gian này, chàng thanh niên Lê Đức Anh tích cực tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương. Khi nghe tin đại diện Chính phủ Pháp sẽ sang điều tra tình hình ở Đông Dương, một cuộc vận động rất sôi nổi đã diễn ra ở Thừa Thiên Huế. Chàng trai trẻ Lê Đức Anh được giao nhiệm vụ đi lấy chữ ký của nông dân các làng vào danh sách yêu cầu đối với thực dân Pháp. Thực chất nói là “lấy yêu cầu” nhưng đó là yêu sách đòi hỏi thực dân Pháp giảm thuế điền thổ và bỏ thuế thân. Những hoạt động của “phong trào dân chủ” ở địa phương lúc đầu là đấu tranh đòi giảm thuế dần tiến tới đòi giảm đi sâu, giảm sưu, giảm phu phen, lao dịch, đòi tự do, hòa bình. Như vậy, từ công việc ban đầu là tham gia đọc sách báo, tuyên truyền cho dân chúng, trao đổi về tình hình đất nước, đồng chí Lê Đức Anh đã tích cực tham gia trong cuộc biểu dương lực lượng, thể hiện khí thế đấu tranh sôi nổi, mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện khẩu hiệu của Mặt trận Dân chủ do Đảng lãnh đạo, cùng nhân dân địa phương đấu tranh đòi giảm sưu, giảm thuế hà khắc của thực dân, phong kiến, đòi tự do, dân chủ cho làng quê bởi “Đây là quyền lợi sinh tồn chung cho xứ sở. Đây là tiền đồ phát triển của dân tộc, đây là sự liên hiệp thân ái và bình đẳng giữa các dân tộc. Đây là công cuộc của nền hòa bình nhân loại”.
Năm 1938, đồng chí Lê Đức Anh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Được đứng trong hàng ngũ của những người cộng sản là một sự kiện đánh dấu sự trưởng thành, chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của chàng trai trẻ Lê Đức Anh trên con đường hoạt động cách mạng. Đồng chí Lê Đức Anh hiểu và “sẵn sàng đón nhận mọi sự nguy hiểm, bắt bớ, tra tấn, tù đày từ bộ máy cai trị của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến” và ông cũng trân trọng sự tin tưởng của những người đã giới thiệu, kết nạp mình vào hàng ngũ của những người cộng sản.
Cuối năm 1938, đầu năm 1939, ở nước Pháp, Chính phủ Đảng Xã hội bị lật đổ, quyền lãnh đạo rơi vào tay phái hữu. Tại các nước thuộc địa của Pháp, thực dân Pháp thẳng tay khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng, nhiều đảng viên và người yêu nước bị bắt. Tháng 10/1939, thực dân Pháp tiến hành khủng bố ở Thừa Thiên Huế, hệ thống cơ sở cách mạng bị vỡ ở nhiều nơi, phong trào cách mạng ở Phú Vang bị tổn thất nặng nề. Hầu hết các đảng viên ở Phú Vang bị bắt, số còn lại phải rút vào hoạt động bí mật nhằm bảo toàn lực lượng để duy trì hoạt động sau này. Thực hiện chủ trương chung là tất cả đảng viên rút vào hoạt động bí mật, đồng chí Lê Đức Anh bí mật rời quê hương lánh vào Hội An – Quảng Nam rồi vào Phan Rang và lên Đà Lạt hoạt động, sớm tìm đến với tổ chức cách mạng.
Sau những năm tháng âm thầm làm rất nhiều việc như: cu ly quét dọn, chế biến thực phẩm nguội, đánh máy chữ… và tìm cách liên lạc với tổ chức, đầu năm 1942, đồng chí Lê Đức Anh rời Đà Lạt xuống đồn điền cao su Lộc Ninh, tiếp tục làm thuê kiếm sống. Tại đây, ngoài việc chế biến thực phẩm nguội, đồng chí Lê Đức Anh còn được giao đi phân phát lương thực. Có thêm công việc đi phân phát lương thực và không bị quản chặt như phu cạo mủ cao su nên đồng chí Lê Đức Anh có “điều kiện đến các làng tiếp xúc với phu cao su vận động, xây dựng phong trào của phu cao su”. Đây là những cơ sở, điều kiện rất thuận lợi để đồng chí nghĩ đến việc tìm và bắt liên lạc với tổ chức cách mạng.
Tại Lộc Ninh, hằng ngày tiếp xúc, làm việc và chứng kiến cuộc sống cơ cực của những phu cao su, đồng chí Lê Đức Anh đã nghĩ cách “bàn với họ làm sao giúp nhau để bảo đảm cho đời sống của người phu đỡ cực khổ”. Từ những công việc hằng ngày là động viên, chia sẻ, nhắc các phu cao su: là người Việt với nhau phải đối xử với nhau cho tốt, không đánh mắng nhau; vận động nhắc nhở phu đi ngủ phải mắc mùng, không để muỗi đốt, ngừa sốt rét, giữ nơi ăn ở sạch sẽ, hạn chế dần chuyện bài bạc,… đồng chí Lê Đức Anh đã dần tổ chức, củng cố đời sống vật chất, tinh thần và hâm nóng, thắp sáng trong phu đồn điền cao su lòng tự tôn dân tộc, tinh thần đấu tranh cách mạng. Từ những công việc ban đầu đó, đồng chí Lê Đức Anh đã tiến hành giác ngộ, vận động, gây dựng và phát triển phong trào của các phu cao su. Khi phong trào cách mạng trong công nhân các đồn điền cao su ở Lộc Ninh đã phát triển nhanh và vững, đồng chí Lê Đức Anh tiếp tục gây dựng phong trào phát triển rộng khắp đến các đồn điền cao su lân cận như: Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch. Đây cũng là những cơ sở để gây dựng, phát triển và mở rộng phong trào cách mạng của tỉnh Thủ Dầu Một. Song song với công việc gây dựng phong trào cách mạng tại chỗ, đồng chí Lê Đức Anh tìm cách bắt liên lạc với tổ chức của Đảng.
Trong thời gian hoạt động ở đồn điền cao su Lộc Ninh, đồng chí Lê Đức Anh đã trực tiếp giác ngộ hàng trăm phu cao su, tuyển chọn và kết nạp được bốn người mà ông tin tưởng đó là “những người nòng cốt đại diện cho quyền lợi của công nhân lao động, những người đó phải kiên định” để thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở đồn điền cao su Lộc Ninh. Tháng 02/1944, Chi bộ Đảng đồn điền cao su Lộc Ninh được thành lập gồm năm đảng viên. Đồng chí Lê Đức Anh là Ủy viên Ban cán sự Đảng tỉnh Thủ Dầu Một[113] kiêm Bí thư Chi bộ và phụ trách vấn đề dân tộc thiểu số. Từ khi tổ chức Đảng ra đời, đồng chí Lê Đức Anh cùng Chi bộ Lộc Ninh thường lấy nhà thầy giáo Nhuận (một địa điểm tại chợ Lộc Ninh) làm một trong những nơi hội họp, cất giữ tài liệu mật của Đảng, đồng thời cũng là nơi liên lạc nhận tài liệu từ trên đưa xuống. Sau khi thành lập, theo chỉ thị của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, đồng chí Lê Đức Anh cùng Chi bộ Lộc Ninh khẩn trương gây dựng, phát triển lực lượng, đẩy mạnh tuyên truyền cách mạng trong công nhân và nhân dân vùng Hớn Quản, chuẩn bị đón thời cơ phát động quần chúng nhân dân, công nhân và đồng bào các dân tộc vùng lên khởi nghĩa.
Giữa năm 1944, Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương xúc tiến việc thành lập các đoàn thể Mặt trận Việt Minh ở Nam Bộ. Tại Thủ Dầu Một, Tỉnh ủy đề ra phương châm: nơi nào đã phục hồi được cơ sở thì tổ chức các hội cứu quốc (công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc). Đầu năm 1945, tại Lộc Ninh, đồng chí Lê Đức Anh tập trung vào việc tổ chức lực lượng trung kiên trong các nghiệp đoàn, xây dựng được một số hội cứu quốc chuẩn bị sẵn sàng cho đấu tranh vũ trang.
Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính, hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Đây là cơ hội thuận lợi để lực lượng cách mạng ở Nam Bộ nói chung và Thủ Dầu Một nói riêng phát triển cả về tổ chức và lực lượng. Ở vùng đồn điền cao su, lực lượng nòng cốt của cách mạng là các nghiệp đoàn công nhân do chi bộ đảng vận động và tổ chức. Ở Lộc Ninh có 12 làng là 12 nghiệp và các nghiệp đoàn thợ cơ khí, thợ điện, thợ xây, thợ mộc,… Các nghiệp đoàn công nhân lúc đầu chưa tổ chức thành những đội vũ trang nhưng tất cả đã thống nhất, bí mật chuẩn bị những vũ khí thô sơ như gậy tầm vông, giáo mác, đồng bào người dân tộc Xtiêng thì có cung nỏ chuẩn bị sẵn sàng trở thành đội vũ trang làm nòng cốt trong lực lượng nổi dậy khởi nghĩa.
Với tinh thần tích cực vận động, tổ chức và chỉ đạo sâu sát của Đảng, đến tháng 8/1945 ở Lộc Ninh, lực lượng quần chúng đã hình thành các hội cứu quốc, lực lượng thanh niên tiền phong, các đội thanh niên bán vũ trang, tự vệ… Lực lượng này nằm trên địa bàn phía bắc, góp phần đáng kể cho toàn tỉnh “hình thành một lực lượng bán vũ trang đông đảo gồm 150 đoàn thanh niên tiền phong, thanh niên cứu quốc có hơn 2 vạn đoàn viên”. Trong số đó, “chỉ tính riêng số anh em người dân tộc Xtiêng đã có khoảng 40 người, tất cả bí mật rời khỏi đồn điền cao su, tập trung về vị trí xóm Bưng để chuẩn bị khí giới và luyện tập vũ trang, háo hức chờ lệnh khởi nghĩa” sẵn sàng đứng lên giành chính quyền.
Ngày 15/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở tỉnh lỵ Thủ Dầu Một nói riêng và toàn cõi Đông Dương nói chung đang rất hoang mang, suy sụp. Một không khí chuẩn bị Tổng khởi nghĩa đang diễn ra khẩn trương, sôi nổi trong khắp cả nước. Tại các đồn điền cao su Lộc Ninh, Hớn Quản, Dầu Tiếng, tổ chức thanh niên cứu quốc, thanh niên tiền phong có nhiều hình thức hoạt động phong phú, công khai tuyên truyền khởi nghĩa, dán khẩu hiệu kiên quyết giành độc lập dân tộc; các đội vũ trang thì ráo riết luyện tập, chuẩn bị vũ khí. Lực lượng cách mạng đã làm chủ tình hình ở các vị trí xung yếu trên toàn tỉnh, chỉ chờ lệnh khởi nghĩa là sẽ đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân.
Ngày 23/8/1945, đồng chí Lê Đức Anh được phân công phụ trách chỉ huy khởi nghĩa, lãnh đạo công nhân các đồn điền cao su và đồng bào dân tộc ở hai huyện Hớn Quản, Bù Đốp khởi nghĩa giành chính quyền. Sáng 24/8/1945, hàng nghìn công nhân các làng, đồn điền cao su Lộc Ninh cùng nông dân ở các địa phương nhất tề nổi dậy, nhanh chóng làm chủ các trụ sở cơ quan hành chính trong thị trấn. Tại Hớn Quản, Đội vũ trang do đồng chí Lê Đức Anh thành lập và chỉ huy có quân số hơn 100 người, cùng với cung nỏ khoác vai, bao tên đeo ngang hông mà nhân dân trong vùng quen gọi là “Đội quân áo nâu” đã có cơ hội phát huy sức mạnh và phô trương thanh thế. Tại Bù Đốp, lực lượng khởi nghĩa thu được kho súng máy của địch. Cùng với Lộc Ninh, các quận Tân Uyên, Lái Thiêu, Bến Cát, lực lượng quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Ngay trong đêm 24 rạng ngày 25/8/1945, lực lượng khởi nghĩa từ các quận huyện kéo quân về hợp điểm giành chính quyền ở tỉnh lỵ Thủ Dầu Một.
Như vậy, nhân dân Lộc Ninh đã nổi dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền nhanh, gọn khi thời cơ đến. Thắng lợi đó là kết quả của 15 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất của những người cộng sản và quần chúng cách mạng, trải qua những bước thăng trầm và bao hy sinh mất mát và là kết quả của cuộc vận động giải phóng dân tộc trong đó có công lao, đóng góp trực tiếp của đồng chí Lê Đức Anh.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng, Chủ tịch nước Lê Đức Anh để lại nhiều dấu ấn quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, quân đội và nhân dân ta. Trong đó, những năm đầu hoạt động cách mạng (1937 – 1945) với bao khó khăn, thử thách đã tôi rèn đồng chí Lê Đức Anh trở thành người chiến sĩ cộng sản kiên cường, suốt đời chiến đấu hy sinh vì lý tưởng cách mạng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân.
