Danh mục sách

BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THEO KẾ SÁCH TỐI ƯU

Nhân kỷ niệm những ngày lễ lơn trong 2 năm 1994-1995, đồng chí Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có nhiều bài viết và bài phát biểu quan trọng. Được sự đồng ý của Chủ tịch nước, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân chọn một số bài in thành sách lấy tên là: BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THEO KẾ SÁCH TỐI ƯU. Đây là cuốn sách quý mang tính lý luận và tính thực tiễn sâu sắc, giúp cán bộ, chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang nhân dân học tập, nâng cao nhận thức, quan điểm, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới xây dựng quân đội nhân dân; đổi mới công cuộc xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân để có đủ sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp hoà bình, xây dựng đất nước phồn vinh, góp phần vào hoà bình và phát triển trên thế giới.

Xin trân trọng giới thiệu cùng các đồng chí và bạn đọc. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

Trả lời phỏng vấn của Tạp chí Quốc phòng toàn dân nhân dịp Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

Phóng viên:

Thưa đồng chí Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Người ta nói, đồng chí đã từng là người chỉ huy, là vị tướng xông pha chiến trận trong cả hai cuộc kháng chiến, là Tư lệnh tập đoàn bộ đội trong cuộc chiến tranh bảo vệ quốc tế chống thảm họa diệt chủng trên đất nước bạn. Thế mà, khi làm Bộ trưởng Quốc phòng, đồng chí lại thực hiện giảm mạnh quân số, điều chỉnh chiến lược. Hình như ở đây có điều gì nghịch lý trong con người của vị tướng sinh ra từ chiến tranh?

Trả lời:

Tôi nghĩ, chúng ta không phải liên tiếp tiến hành các cuộc chiến tranh yêu nước trong gần 50 năm qua, nếu như chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc và các thế và các thế lực khác không phát động các cuộc chiến tranh xâm lược – dùng chiến tranh để chà đạp lên khát vọng hòa bình, độc lập tự do của nhân dân ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói điều này trước toàn thế giới: “Đồng bào tôi và tôi thành thật muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh”. Khi quân viễn chinh Pháp đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược trên cả nước ta, Người đa kêu gọi toàn dân: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đấy là nguyên nhân chủ yếu buộc quân và dân ta phải tiến hành cuộc kháng chiến lần thứ nhất.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã kết thúc thắng lợi bằng chiến cuộc Đông – Xuân năm 1953 – 1954 với đòn quyết chiến lẫy lừng ở Điện Biên Phủ. Miền Bắc được giải phóng.

Khả năng thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình đã được Hiệp định Giơ-ne-vơ bảo đảm, mặc dù Hiệp định đó chưa phản ánh đúng tầm vóc thắng lợi của nhân dân ta. Tuy nhiên, Đảng ta, Nhà nước ta, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta vẫn tích cực tranh thủ mọi khả năng hòa bình để xây dựng miền Bắc và đoàn tụ hai miền đất nước theo cam kết của cộng đồng quốc tế. Thế nhưng, những nhà cầm quyền nước Mỹ lúc báy giờ đã làm trái với tư tưởng hòa bình của đông đảo nhân dân Mỹ và thế giới. Họ trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, tiến hành xâm lược và giết hại rất dã man nhân dân miền Nam nước ta, ngang nhiên dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc. Đó là nguyên nhân duy nhất khiến nhân dân và các lực lượng vũ trang ta buộc phải tiếp tục cầm súng chiến đấu chống quân đội Mỹ xâm lược. Vượt qua sức tàn phá của 15 triệu tấn bom đạn, và chất dộc hóa học tương đương với 700 quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Hi-rô-si-ma, quân và dân ta đã thực hiện được mục tiêu cơ bản là bảo vệ sinh mệnh của dân tộc và giải phóng hoàn toàn Tổ quốc, theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bằng cuộc tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975 chưa từng có trong lịch sử dân tộc, đỉnh cao là chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Cả nước sạch bóng quân xâm lược, Nam Bắc xum họp một nhà, cả dân tộc ta tiến vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhưng hòa bình chưa kịp hiện diện đầy đủ thì ngọn lửa chiến tranh xâm lược đã bùng lên ở hai đầu đất nước. Một lần nữa, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta lại phải bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc không ai ngờ tới, để giữ gìn những gì mà suốt một phần ba thế kỷ đã giành được bằng xương máu.

Tất cả sự thật lịch sử đó nói lên, nhân dân ta, Đảng ta, Nhà nước ta là một quốc gia – dân tộc yêu hòa bình. Vì yêu hòa bình tha thiết mà phải đem xương máu để giành lấy hòa bình mà kẻ xâm lược đã phá hoại. Quân đội ta là công cụ để bảo vệ hòa bình, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giành lấy hòa bình, độc lập, tự do. Có thể nói, bản chất Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân để bảo vệ hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc, của Tổ quốc. Hòa bình trong độc lập, tự do. Là một thành viên của quân đội ta, tôi luôn luôn thấm nhuần bản chất đó trong suy nghĩ và hành động. Đúng như Bác Hồ đã nói: “Dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu dân, cứu nước”. Như vậy, trong tôi không có gì là nghịch lí.

Vì thế, khi đất nước ta bước vào thời kỳ mới, thời kỳ hòa bình xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, Đảng ta, Nhà nước ta quyết định giảm hai phần ba số quân thường trực, điều chỉnh chiến lược. Điều đó đáp ứng yêu cầu cấp bách của nhân dân ta là tập trung sức xây dựng đất nước về mọi mặt sau gần một phần hai thế kỷ bị cuốn vào các cuộc chiến tranh; phù hợp với chính sách Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, góp phần vào củng cố và phát triển xu thế hòa hoãn, đối thoại, hợp tác giữa các quốc gia – dân tộc trong khu vực và trên thế giới.

Song, cũng cần nhận thức rõ, giảm số quân của bộ đội thường trực, điều chỉnh chiến lược không có nghĩa là làm cho quân đội ta yếu đi, hoặc coi thường nguy cơ chiến tranh. Trái lại, ta phải xây dựng cho quân đội ta mạnh hơn bao giờ hết, làm cho đất nước có sức mạnh bảo vệ mình hơn hẳn trong các cuộc chiến tranh vừa qua. Đó là con đường đôi mới xây dựng quân đội nhân dân, đổi mới công cuộc xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ quốc phòng và an ninh, kết hợp chặt chẽ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là, quân đội ta, nhân dân ta phải xây dựng cho mình có đủ sức mạnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng đất nước phồn vinh, đồng thời sẵn sàng ứng phó thắng lợi mọi cuộc phiêu lưu chiến tranh xâm lược. Đó là bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo kế sách tối ưu.

Phóng viên:

Xin cảm ơn đồng chí Chủ tịch nước.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân ta, đỉnh cao là chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu đã kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nươc. Đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa thống nhất Tổ quốc, là một thắng lợi vĩ đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là bước ngoặt quyết định mở đường cho dân tộc Việt Nam tiến hẳn vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chiến thắng lạc hậu và nghèo nàn, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhân loại tiến bộ coi thắng lợi của nhân dân ta như một trong những thiên anh hùng ca của công cuộc giải phóng vĩ đại – giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta vì hòa bình, độc lập, thống nhất Tổ quốc, chóng lại cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực hiếu chiến ở Oa-sinh-tơn.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta, dân tộc ta tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân trong điều kiện đất nước ta tạm bị chia làm hai miền. Một Đảng lãnh đạo thống nhất, một dân tộc, một quân đội tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau nhằm mục tiêu chung là độc lập và thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta phải đương đầu với thế lực xâm lược mạnh nhất hành tinh. Đó là cuộc đọ sức điển hình của “nhở đánh lớn”, “ít địch nhiều”, cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt, một mất một còn giữa nhân nghĩa và bạo tàn, giữa độc lập, tự do và nô dịch, xâm lăng, giữa con người đòi dân chủ, nhân quyền và kẻ áp đặt độc đoán bằng phương tiện chiến tranh hiện đại, giữa nguyện vọng hòa bình trong độc lập tự do và “hòa bình” trong nô dịch dân tộc và áp bức giai cấp.

Hơn một phần năm thế kỷ, từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 4 năm 1975, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân cả nước liên tiếp đương đầu thắng lợi với các chiến lược chiến tranh của giới cầm quyền Hoa Kỳ. Đó là chiến lược phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, đánh phá cách mạng miền Nam, độc chiếm miền Nam nước ta; chiến lược chiến tranh đặc biệt; chiến lược chiến tranh cục bộ dùng quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam và dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc; chiến lược “phi Mỹ hóa” và “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn Đông Dương. Giới cầm quyền Hoa Kỳ còn lợi dụng những bất hòa trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hòng cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Để thực hiện các chiến lược đó, về quân sự, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa khoảng 6,5 triệu lượt thanh niên Mỹ trực tiếp tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam; huy động chừng 70% lực lượng lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% lực lượng hải quân, 60% lực lượng không quân của cả nước Mỹ với đội quân viễn chinh đông tới hơn nửa triệu người. Số lượng bom đạn quân Mỹ ném xuống Việt Nam vượt xa các cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành trước đó, tương đương với 700 quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Hi-rô-si-ma (Nhật) cùng hàng nghìn tấn chất độc hóa học. Có thể nói, những sản phẩm quân sự và chiến tranh hạng nhất, mới nhất của nước Mỹ (trừ vũ khí hạt nhân) đểu đã được sử dụng trên chiến trường Việt Nam và Đông Dương. Nhưng quân Mỹ đã liên tiếp bị thất bại thảm hại trên cả hai miền Nam Bắc, thất bại sau lớn hơn thất bại trước.

Nhân dân Mỹ đã đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, đưa quân đội Mỹ về nước. Sự chia rẽ trong giới cầm quyền Mỹ ngày càng sâu sắc. Sự đối lập giữa giới cầm quyền và nhân dân tiến bộ Mỹ ngày càng gay gắt. Nhân dân tiến bộ toàn thế giới, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, phong trào cộng sản và công nhân thế giới, phong trào giải phóng dân tộc, ngày càng ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, nhân dân ba nước Đông Dương, chống đế quốc Mỹ xâm lược. Thế lực hiếu chiến Hoa Kỳ bị cô lập hoàn toàn trước cộng đồng thế giới. Hành động quân sự quyết định: thả mìn bao vây, phong tởa cảng Hải Phòng, dùng B.52 ném bom bắn phá Hà Nội – Hải Phòng từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972, bị thất bại. Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri, rút quân về nước, công nhận nền độc lập và sự thống nhất của Việt Nam. Song, âm mưu đẩy mạnh chiến tranh, cũng cố chế độ ngụy quyền, ngụy quân vẫn được ngoan cố thực hiện hòng xóa bở thành tựu đấu tranh chống xâm lược của nhân dân cả nước ta. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân ta đã đập tan mưu đồ trên đây, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta, dân tộc ta tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến lâu dài, gay go, quyết liệt nhất trong lịch sử của đất nước ngàn năm văn hiến, và đã thu được những bài học vô cùng quý giá.

Bài học bao trùm nhất, cơ bản nhất là phát huy được sức mạnh to lớn của cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đần, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng ta đã xác định đúng đắn mục tiêu của cách mạng, vận dụng đúng đắn, sáng tạo phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân để tổ chức và động viên sức mạnh của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng nhằm mục tiêu chung là độc lập và thống nhất Tổ quốc. Tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác và của loài người tiến bộ. Thực hiện chiến lược tổng hợp, kết hợp chặt chẽ đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa quần chúng. Kết hợp ba vùng chiến lược rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị. Kết hợp ba thứ quân, kết hợp chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích, kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhở; thực hiện làm chủ để đánh địch, đánh địch để làm chủ. Kết hợp ba quả đấm chiến lược: các đòn đánh của bộ đội chủ lực trên chiến trường lựa chọn, các chiến dịch tổng hợp ở vùng đồng bằng đông dân, đấu tranh chính trị ở các đô thị. Kết hợp chiến tranh giải phóng ở miền Nam với chiến tranh bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, đánh lui địch từng bước, đánh đổ địch từng bộ phận, đánh cho Mỹ cút rồi đánh cho ngụy nhào, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn và triệt để.

Đường lối chính trị, đường lối quân sự, nhất là phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân của Đảng trên đây – với sự chỉ đạo chiến lược tài tình của tập thể Bộ Chính trị đứng dầu là đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn – đã tạo nên sức mạnh tổng hợp cực kỳ to lớn, sức mạnh chưa từng có của cả nước, của cả dân tộc, nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân anh hùng của chúng ta, đánh thắng lực lượng xâm lược khổng lồ và những có gắng chiến tranh rất cao của Hoa Kỳ.

Một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Đây là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta được sản sinh và phát triển trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước từ ngàn xưa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống đó của dân tộc ta được phát triển mạnh mẽ trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, xây dựng cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, thể hiện ở lời khẳng định mang tính chân lý vĩnh hằng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của dân tộc ta là “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc. “Nam Bắc là một nhà”, “miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Tiêu biểu cho ý chí của toàn thể dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã tuyên bố: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Lòng yêu nước, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc ta đã chuyển thành sức mạnh vật chất. Từng đảng viên, từng chiến sĩ, từng người dân đứng lên chiến đấu, thực hiện “toàn dân đánh giặc”, “cả nước đánh giặc” theo đường lối của Đảng. Cuối cùng nhân dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược, giành lại độc lập, hòa bình thống nhất thật sự cho dân tộc, cho Tổ quốc Việt Nam.

Lòng nhân nghĩa, khoan dung, lấy đại nghĩa làm trọng của dân tộc ta là một yếu tố tạo nên sức mạnh chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là một bản sắc dân tộc độc đáo hình thành và phát triển trong lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài của cộng đồng các dân tộc Việt Nam có hàng nghìn năm văn hiến. Bản sắc này là một biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam; trong lĩnh vực quân sự, nó đã trở thành một động lực to lớn tập hợp lực lượng của toàn dân đánh giặc và là một vũ khí sắc bén phân hóa kẻ thù, cô lập cao độ kẻ thù nguy hiểm nhất, hạn chế cái mạnh, khoét sâu cái yếu của chúng để đánh thắng chúng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lòng nhân nghĩa, khoan dung của dân tộc ta được xây dựng và phát triển như mối quan hệ cơ bản giữa các thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó là giá trị nhân văn mới để xây dựng, phát triển khối đại đoàn kết dân tộc, trên nền tảng mới của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đất nước bị tạm chia làm hai miền. Đảng ta đã đoàn kết được tất cả lực lượng của dân tộc, tập hợp được mọi người Việt Nam yêu nước, kể cả một số đông những người vì nhiều lý do khác nhau đứng trong hàng ngũ kẻ thù, để chống xâm lược, giành độc lập, hòa bình và thống nhất Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu biểu cho lòng nhân nghĩa, khoan dung của dân tộc ta đã chi rõ: “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khởi Việt Nam thì hòa bình sẻ trở lại ngay lập tức”. Trong chiến tranh, người ta thường nói đánh tiêu diệt để chiến thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nói “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Nhân dân cả nước vì đại nghĩa, xóa bở mặc cảm “bên này, bên kia”, cùng nhau giành lấy hòa bình, thống nhất nước nhà, xây dựng Tổ quốc. Cuộc “tắm máu”, “lấy oán trả oán” đã không xây ra sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Việc tìm kiếm binh sĩ Mỹ mất tích trong chiến tranh hiện được Chính phủ ta và nhân dân ta giúp đỡ với thiện chí, chân thành, mặc dù nỗi đau mà cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ gây nên còn đè nặng lên đời sống của cả dân tộc Việt Nam ta.

Nhân loại tiến bộ coi lòng nhân nghĩa, khoan dung của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu vì hòa bình, độc lập và thống nhất Tổ quốc tiêu biểu cho lương tri và phẩm giá của nhân loại.

Một yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là tư chất thông minh, sáng tạo của dân tộc ta. Đây cũng là một bản sắc lâu đời của dân tộc Việt Nam, không phải tự nhiên mà có, mà hình thành, phát triển và được khảo nghiệm qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đầy gian khổ, khó khăn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho cộng đồng dân tộc Việt Nam tồn tại, phát triển như ngày nay trong bối cảnh lịch sử luôn luôn đứng trước nguy cơ thiên tai, địch họa to lớn và dồn dập.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, tư chất thông minh, sáng tạo của dân tộc đã có bước phát triển về chất khi được trang bị thêm hệ thống tri thức về nhân sinh quan và thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, khi giai cấp công nhân Việt Nam trở thành người đại biểu của dân tộc với đội tiên phong có trí tuệ và giàu kinh nghiệm của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xác định mục tiêu đúng, có quyết tâm cao, vấn để là tìm tòi mọi hình thức, phương pháp, bước đi, cách đánh… trong thực tiễn để đạt tới mục đích. Trong chiến tranh, quy luật chung là mạnh được, yếu thua. Tạo ra sức mạnh đánh thắng thế lực xâm lược to lớn chỉ có thể bằng trí thông minh, óc sáng tạo, bằng trí tuệ cấp độ cao, không chỉ của cơ quan lãnh đạo tối cao mà của mỗi người, của toàn dân. Không phải chỉ dám đánh, mà còn phải biết đánh và biết thắng. Chiến tranh nhân dân thể hiện rõ rệt dân chủ trong quân sự. Theo đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng ta, quân và dân ta đã sáng tạo ra muôn vàn cách đánh rất phong phú trên nhiều lĩnh vực. Chúng ta đã biết điều khiển cuộc chiến tranh nhân dân phát triển từng bước từ nhở đến lớn và cuối cùng kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng, hoàn toàn, triệt để và rất bất ngờ.

Nhân dân ta đã biết kết hợp chặt chẽ sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại, phát huy đầy đủ sức mạnh đoàn kết của dân tộc, liên minh của ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia và tăng cường đoàn kết quốc tế. Tiếp nhận đến mức cao nhất sự giúp đỡ to lớn, quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác trong điều kiện có sự bất hòa giữa các nước và các đảng anh em… Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân các nước trên toàn thế giới kể cả nhân dân nước Mỹ. Đó cũng là những nét tiêu biểu cho trí tuệ cấp độ cao của dân tộc ta trong cuộc chiến vốn không cân sức mà nhân dân ta lại giành được thắng lợi.

Những bài học của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với công cuộc đổi mới. Điều quan trọng là phải vận dụng, phát triển những bài học ấy cho phù hợp với những điều kiện lịch sử mới của đất nước ta, của khu vực Đông Nam Á và của thế giới.

Đảng ta đã để ra đường lối đổi mới xã hội chủ nghĩa đúng đắn, sáng tạo và không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối đó qua tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, kết hợp với việc học tập, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm hay của thế giới. Qua bài học của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường lối đổi mới của Đảng ta phải là sản phẩm của quá trình tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành dộng, bảo vệ và không ngừng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đường lối đổi mới xã hội chủ nghĩa là phải trân trọng và phát huy những thành tựu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và phải khắc phục những khuyết tật, những sai lầm đã mắc phải làm cho xã hội lâm vào tình trạng trì trệ – là sản phẩm của tư duy thoát ly thực tiễn, bảo thủ, giáo điều, cứng nhắc. Đường lối đổi mới xã hội chủ nghĩa càng không thể dung hòa với những cái chập chờn, vô nguyên tắc, xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tường Hồ Chi Minh. Phải một mặt tiếp tục khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều, hiện tượng bảo thủ; mặt khác, phải kiên quyết chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, xét lại, những hiện tượng mơ hồ, mắt cảnh giác, ngay trong quá trinh đưa đường lối vào cuộc sống, chứ không chỉ trên lĩnh vực tư tưởng, quan điểm.

Đường lối đổi mới xã hội chủ nghĩa của Đảng phải phản ánh đúng những đặc điểm về hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, truyền thống và bản sắc của dân tộc Việt Nam. Đó là con đường làm cho chủ nghĩa xã hội ăn sâu, bám rễ vào đất nước và con người Việt Nam, vào truyền thống bản sắc, lịch sử, kinh nghiệm, thói quen, tư chất, nền văn hóa, văn minh của dân tộc Việt Nam. Khác với chủ nghĩa xã hội mà ta nhận thức và thực hiện trước dây, với cả mặt tích cực và khuyết tật của nó, chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới ngày nay không thể có một mô hình chung cho mọi quốc gia – dân tộc. Mỗi quốc gia – dân tộc phải tìm ra mô hình chủ nghĩa xã hội của mình phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của quốc gia – dân tộc mình. Chỉ có như thế, chủ nghĩa xã hội mới có sức sống thực bằng động lực nội tại là chủ yếu trong từng quốc gia – dân tộc.

Bài học về ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cần phát triển, nâng cao thể hiện trong quyết tâm chống nghèo nàn, lạc hậu, từng bước khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các quốc gia — dân tộc khác trong vùng và thế giới; quyết tâm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, để phòng nguy cơ chệch hướng sang chủ nghĩa tư bản; quyết tâm chống lại những hành động tham nhũng, cửa quyền cùng các tiêu cực khác trong xã hội đe dọa sự biến chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, chống nguy cơ tự diễn biến và bị diễn biến hòa bình, ngăn ngừa và loại trừ mầm mống bạo loạn, lật đổ, sẵn sàng đối phó thắng lợi với chiến tranh xâm lược trên các quy mô.

Nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển so với quốc gia – dân tộc khác cũng không nhẹ gì hơn nỗi nhục mất nước, làm thân trâu ngựa. Hơn nữa, ý chí không có gì qúy hơn tự do, về bản chất cũng là ý chí, quyết tâm xây dựng một cuộc sống độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Vì thế, cuộc đấu tranh xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và văn minh cũng đòi hởi ý chí kiên cường của toàn dân, của cả dân tộc. Đảng ta đã xác định rõ mục đích và nhân dân ta đã tở rõ quyết tâm thực hiện, không do dự, dao động, không ngại khó, ngại khổ, không quản hy sinh đê thoát khởi nghèo nàn, lạc hậu.

Cuộc đấu tranh chống nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và văn minh khó khăn, gian khổ và lâu dài hơn cuộc chiến đấu chống xâm lược. Nhân dân ta, dân tộc ta xây dựng cuộc sống mới từ điểm xuất phát rất thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Cho nên mỗi thành viên của cộng đồng dân tộc, mọi công dân phải bền chí gấp nhiều lần, phải thực sự vì nước và vì mình; kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân, gia đình, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội; phát huy đầy đủ khả năng của các thành phần kinh tế, giải phóng ngày càng lớn lực lượng sản xuất của đất nước, tích cực áp dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất – tinh thần của xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng xã hội, với cũng cố quốc phòng – an ninh.

Phải mở rộng và cũng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện đoàn kết chặt chẽ các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và văn minh của Đảng ta để ra đã và đang thu hút mọi người Việt Nam yêu nước. Mục tiêu này phản ánh quyền lợi cơ bản, khát vọng lâu đời của dân tộc Việt Nam và quyền lợi cơ bản của giai cấp công nhân cùng nhân dân lao động ở nước ta. Đây là sự thống nhất biện chứng giữa xây đựng Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, giữa quyền lợi của dân tộc và quyền lợi của giai cấp công nhân. Đó là cơ sở tạo nên mối quan hệ gắn bó hơn bao giờ hết giữa giai cấp và dân tộc, giữa các thành viên trong cộng đồng dân tộc bao gồm cả người Việt định cư ở nước ngoài. Vì thế, khả năng đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam rộng lớn hơn, vững chắc hơn, có hiệu quả hơn. Thành tựu bước đầu nhưng rất quan trọng của 9 năm đổi mới đã khẳng định điều này. .

Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong hoàn cảnh thế giới và khu vực hiện nay thể hiện trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta: Việt Nam muốn là bạn của tất cả các quốc gia – dân tộc trên thế giới. Trong bối cảnh của khu vực và thế giới vừa đối đầu vừa đối thoại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, nhân dân ta, dân tộc ta giương cao ngọn cờ hòa bình, kiên trì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, chống chiến tranh xâm lược, chống chính sách nô dịch; tăng cường đối thoại, đẩy lùi đối đầu, tăng cường yếu tố đối tác, giảm yếu tố đối tượng khép lại quá khứ, nhìn về tương lai… thực hiện đoàn kết, bình đẳng, hữu nghị, hợp tác hai bên và nhiều bên cùng có lợi.

Bài học của cuộc kháng chiến chống Mỹ là trước hết phải xác định mục tiêu đúng, có quyết tâm cao, trên cơ sở đó mà nghiên cứu, tìm tòi mọi hình thức, phương pháp, bước đi thích hợp nhằm đạt được mục tiêu để ra. Công cuộc đổi mới xã hội chủ nghĩa càng đòi hởi trí tuệ cấp độ cao của toàn dân, của cả cộng đồng dân tộc. Đây là một quá trình nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn, thẩm định, khẳng định, khảo nghiệm thực tế cũng như lý luận. Muốn đạt được những thành tựu đổi mới, không thể một người nào làm được, mà phải dựa vào trí tuệ tập thể, trí tuệ của toàn dân, phải thực hiện dân chủ, tự do tư tưởng. Then chốt ở đây là vấn để dân chủ; dân chủ là động lực và cũng là mục đích của cách mạng. Thực tế cho thấy, nhiều giải pháp mang tầm vĩ mô đã được nhân dân, quần chúng phát hiện, kiến nghị và được áp dụng với hiệu quả to lớn. Hãy khắc phục thói quen của một số người khi có quyền hành là không học hởi quần chúng, không lắng nghe và phân tích những ý kiến khác nhau mà chỉ nghe những ý kiến “hợp với mình”, thậm chí có thái độ không thởa đáng với những người có ý kiến khác mình.

Phải nhận thức rằng, công cuộc đổi mới xã hội chủ nghĩa về thực chất, là công cuộc xây dựng kỷ nguyên mới của dân tộc ta, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là cuộc cách mạng mới của toàn Đảng, toàn dân, toàn dân tộc. Công cuộc đó vừa có vận hội lớn vừa có những thử thách nghiêm trọng. Để nắm được vận hội, vượt qua thử thách, tất yếu phải có trí tuệ, tìm ra được giải pháp tối ưu, bước đi thích hợp. Những giải pháp và bước đi đó phải là những sản phẩm của trí tuệ tập thể. Vì thế, phải có quan điểm mới về chiến lược con người – nâng cao dân trí, từng bước trí thức hóa công nông, nâng cao trình độ kiến thức cho toàn Đảng, cho toàn bộ máy Nhà nước, cho toàn dân và toàn quân. Đó cũng là đòi hởi khách quan của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

Trải qua bao nỗi thăng trầm trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam ta rút ra nhiều bài học đắng cay trong thất bại và có rất nhiều bài học quý giá trong thành công. Vì vậy bên cạnh niềm tự hào, tự tin dân tộc, không tránh khởi có lúc có hiện tượng cam chịu và tự ti trước sức mạnh xâm lược, nô dịch to lớn của nước ngoài. Nhưng từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, nhân dân ta, dân tộc ta đã phát huy cao độ niềm tự hào dân tộc, vững tin vào sức mình, đã bền bỉ vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh thắng hai đế quốc to, giành độc lập tự do cho Tổ quốc.

Trên hành tinh của chúng ta, thế giới loài người là một chỉnh thể thống nhất mang đầy mâu thuẫn; các thế lực khác nhau vừa hợp tác, vừa đọ sức quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tình hình đó ảnh hưởng nhanh nhạy đến nước ta. Chúng ta phải ứng xử như thế nào trước tình hình đó? Không thể trả lời một cách đơn giản. Phải bám sát tình hình để ứng xử từng trường hợp, từng lúc một cách đúng đắn nhất. Muốn vậy, điều cơ bản là phải phát huy đầy đủ niềm tự hào, tự tin dân tộc và tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, tiếp tục xóa sạch đi chứng tự ti, lệ thuộc trong đầu óc của mỗi chúng ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mở rộng hợp tác quốc tế. Giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn bộ máy nhà nước, toàn dân, toàn quân và của các thế hệ mai sau. Nhân kỷ niệm ngày vui Đại thắng mùa Xuân năm 1975, các thế hệ đã làm nên chiến công rạng rỡ này gửi gắm niềm tin sắt đá và bền vững vào các thế hệ kế tiếp sẽ mãi mãi giữ vững nền độc lập dân tộc và xây dựng đất nước ngày thêm giàu mạnh, xã hội ngày thêm công bằng, văn minh, mọi người sống hòa thuận, hạnh phúc và nhân nghĩa theo truyền thống của dân tộc “thương người như thể thương thân”. Chúng ta mãi mãi nhớ ơn nhân dân thế giới, bầu bạn gần xa đã và đang ủng hộ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta mãi mãi là người bạn chân thành của cộng đồng các dân tộc sống trên hành tinh tươi đẹp này.

(Lời phát biểu tại lễ trao tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Snh hùng” tổ chức tại Hà Nội)

Thưa đồng chí Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,

Thưa các đồng chí cố vấn,

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc,

Thưa các bà mẹ có mặt hôm nay, được Nhà nước trao tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”,

Thưa các đồng chí và các bạn.

Để kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam ta, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, trải qua 50 năm đấu tranh giải phóng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều lần tuyên dương các Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động những công dân yêu nước đã góp phần làm rạng rỡ non sông, đất nước ta.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng – Ngày Hội quốc phòng toàn dân, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định tặng danh hiệu vô cùng bình dị mà rất cao quý “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”  cho những bà mẹ có những người con, người chồng hy sinh anh dũng cho sự nghiệp 50 năm giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.

Tại buổi lễ trọng thể này, thay mặt Đảng, Nhà nước, nhân dân các dân tộc trong cả nước và các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng, tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh các liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.

Với niềm xúc động sâu sắc, tôi xin gửi tới các gia đình liệt sĩ, thương bình, các gia đình có công với nước, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng lòng biết ơn vô hạn và những tình cảm thân thiết nhất, Đảng và Nhà nước ta, dân tộc ta, nhân dân ta nguyện đời đời ghi nhớ công ơn các bà mẹ Việt Nam đã sinh ra, nuôi dạy nên những thế hệ anh hùng của nước ta, đã cống hiến cho Tổ quốc những người thân yêu nhất của mình để bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân của muôn đời con cháu mai sau.

Thưa các đồng chí và các bạn !

Qua các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước, từ ngày Cách mạng thành công đến nay, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong mọi giai đoạn phát triển của đất nước, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hăng hái lao động sản xuất, đấu tranh chống áp bức, bất công, đánh giặc giữ nước, xây dựng gia đình, xóm làng, quê hương, đất nước. Phụ nữ ta đã khẳng định vai trò và phẩm chất cao đẹp của mình, xây đắp nên truyền thống hào hùng làm rạng rỡ thêm đất nước và dân tộc Việt Nam ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cả cuộc đời vì cách mạng, vì nhân dân, đã dânh cho phụ nữ Việt Nam sự quan tâm to lớn, ân cần và sâu đậm nhất, Người đã khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Lịch sử nước ta ghi chữ vàng chói lọi hàng triệu phụ nữ, các bà mẹ, những người vợ với lòng yêu nước nồng nàn, chịu đựng gian khổ, thử thách nặng nề, có những hy sinh thầm lặng mà to lớn, hăng hái tham gia chiến đấu, đảm đang việc nhà, việc làng xóm, động viên chồng con, cháu lên đường cứu nước. Đã có hàng nghìn bà mẹ đã hiến dâng tất cả những người thân yêu nhất của mình cho Tổ quốc.

Đối với cán bộ, chiến sĩ, những người con, người chồng, người thân đi chiến đấu giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, bao giờ hình ảnh người mẹ, người vợ cũng là hình ảnh hết sức yêu thương gắn liền với làng xóm, quê hương đất nước, là nguồn động viên sâu đậm nhất để vượt qua muôn vàn hiểm nguy hoàn thành nhiệm vụ.

Phụ nữ Việt Nam trung hậu, đảm đang, thông minh, sáng tạo lo toan chu đáo việc nước, việc nhà, đã góp phần xây đắp nên nền văn hóa đặc sắc, đầy tính nhân đạo của dân tộc Việt Nam ta.

Qua lịch sử lâu dài của dân tộc, có thể khẳng định rằng phẩm chất, đạo dức cao đẹp của con người Việt Nam, một phần quan trọng được thể hiện rõ nét ở người phụ nữ, những người mẹ. Những lời ru của mẹ đã nuôi dưỡng cho các con những tình cảm trong sáng từ tuổi ấu thơ. Phụ nữ Việt Nam luôn luôn là niềm tự hào của dân tộc ta.

Thưa các đồng chí và các bạn!

Trong buổi gặp mặt đầy xúc động này, với lòng biết ơn sâu sắc đối với những người mẹ Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nguyện phấn đấu hết sức mình để thực hiện nguyện vọng thiết tha của phụ nữ và cũng là của tất cả các dân tộc nước ta, là đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giải phóng phụ nữ để chị em có thể phát huy truyền thống tốt đẹp, một tiềm năng, tài năng và sức mạnh của mình cống hiến nhiều hơn cho đất nước, làm tròn chức năng cao quý của người mẹ, góp phần ngày càng to lớn vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đến thành công.

Ngày nay, phụ nữ nước ta đã trở thành một lực lượng xã hội có vị trí trọng yếu trong mọi mặt đời sống, trên tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội. Khát vọng được giải phóng và được cống hiến, khát vọng tiến bộ và bình đẳng của phụ nữ Việt Nam luôn luôn là khát vọng tha thiết, cao cả và lớn lao. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của các đoàn thể nhân dân và của từng gia đình, lực lượng hùng hậu của phụ nữ đang hoạt động trên tất cả các lĩnh vực hãy phát huy mạnh mẽ vai trò tích cực, chủ động và sáng tạo của mình để tự giải phóng, tự khẳng định mình.

Dù đất nước còn nhiều khó khăn và thử thách, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, các ngành, các cấp, các đoàn thể hãy quan tâm chăm sóc hơn nửa mọi mặt đời sống phụ nữ, xây dựng và thi hành các chế độ, chính sách đối với phụ nữ để không ngừng nâng cao trình độ cho phụ nữ về chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, nuôi dạy con cái… tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho phụ nữ làm tốt nghĩa vụ công dân và chức năng người mẹ.

Đảng và Nhà nước yêu cầu các cấp, các ngành, các đoàn thể đặc biệt chú ý chăm sóc chu đáo, tận tình các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là những phụ nữ cao tuổi đã có cống hiến cao cả cho Tổ quốc. Toàn dân, toàn quân ta, tất cả các thế hệ con cháu, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, sinh viên, học sinh cần học tập, biết ơn những bà mẹ Việt Nam bình dị mà vô cùng vĩ đại của dân tộc.

Một lần nữa, tôi xin bày tở lòng biết ơn vô hạn đối với Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và kính chúc các bà mẹ mạnh khởe, sống lâu, luôn luôn nêu tấm gương sống cho mọi người noi theo.

Những ngày này, đồng bào, chiến sĩ cả nước ta phấn khởi, tự hào kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 – 22-12-1994) – Ngày Hội quốc phòng toàn dân. Cùng với toàn dân, quân đội ta đã đi qua một chặng đường nửa thế kỷ đầy gian khổ hy sinh, nhưng cũng hết sức vẻ vang.

Được Đảng, Bác Hồ sáng lập và lãnh đạo, được nhân dân các dân tộc Việt Nam hết lòng cưu mang, giúp đỡ, được rèn luyện trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, cùng với toàn dân, quân đội ta mấy chục năm ròng từ chân đất, bao gạo, tầm vông, súng trường đã lớn lên thành những binh đoàn hùng mạnh, chiến đấu cực kỳ anh dũng, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, đánh thắng những kẻ thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần, lập nên những chiến công oanh liệt, từ trận đầu Phai Khắt – Nà Ngần đến trận Điện Biên Phủ, rồi đến chiến dịch Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của quân đội, cùng với toàn dân viết nên bản anh hùng ca kỳ diệu của chiến tranh Việt Nam.

Bước sang thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, do hậu quả nặng nề của chiến tranh, đời sống của nhân dân ta còn nhiều khó khăn, nền kinh tế yếu kém, mất cân đối, lại bị bao vây cấm vận, tác động tiêu cực của sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các lực lượng thù địch phá hoại trên nhiều mặt hòng làm sụp đổ chế độ ta… trong bối cảnh đó, một lần nữa, Đảng ta tở rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, của đất nước, đã để ra đường lối đổi mới, vượt qua những khó khăn to lớn, những thử thách hiểm nghèo đưa cách mạng nước ta tiếp tục phát triển. Nền kinh tế nước ta đã có bước tăng trưởng đáng mừng, ngăn chặn được lạm phát, đời sống của một bộ phận lớn dân cư được cải thiện và nâng cao, mở rộng dân chủ, giữ vững ổn định chính trị, cũng cố quốc phòng, an ninh, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế được cũng cố và ngày càng nâng cao. Trong thành tựu bước đầu nhưng vô cùng quan trọng đó có sự đóng góp xứng đáng của các lực lượng vũ trang nhân dân và quân đội nhân dân. Và chính những thành tựu đó đang tạo ra những tiền để đưa đất nước chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trước những biến động mau lẹ và sâu sắc của thế giới, những khó khăn, thử thách lớn lao của đất nước, trước những nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề và rộng lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân đã tở rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định con đường cách mạng, triển khai nhiều công việc to lớn và phức tạp để thực hiện điều chỉnh chiến lược, bố trí lực lượng, giảm mạnh tổng quân số, cũng cố tổ chức, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân… góp phần chống lạm phát, khắc phục khủng hoảng kinh tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, xứng đáng là một lực lượng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

Sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta trong nửa thế kỷ qua gắn liền với cuộc đấu tranh giành thắng lợi của nhân dân ta, của cách mạng Việt Nam; bắt nguồn từ đường lối chính trị, đường lối quân sự và sự lãnh đạo, giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Đó là thước đo phẩm chất, lòng trung thành vô hạn của quân đội ta đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, kiên định và kiên trì con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân đã lựa chọn, quyết tâm đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Mọi bước trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta bắt nguồn từ cội rễ nhân dân. Quân đội ta là con em của nhân dân lao động, có lòng yêu nước nồng nàn, được Đảng giác ngộ cách mạng, mang bản chất của giai cấp công nhân ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, vì nhân dân mà phục vụ. Mục tiêu chiến đấu của quân đội ta là mục tiêu của Đảng, của dân tộc: Vì độc lập tự do của dân tộc, vì ấm no hạnh phúc của nhân dân. chứ không có mục tiêu nào khác. Nhân dân là nguồn sức mạnh vô địch của quân đội, là người mẹ hiền cưu mang và sinh thành, tần tảo chắt chiu từng bát cơm, tấm áo lặng lẽ chịu đựng biết bao hy sinh, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng, cho quân dội. Nhân dân đã cùng quân đội công tác và đánh giặc. “Anh bộ đội Cụ Hồ”-là tấm lòng ưu ái, sự tin cậy của nhân dân đối với quân đội ta. Quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu là vinh dự, trách nhiệm của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đối với nhân dân. Trước những khó khăn, thử thách của cách mạng, Đảng, Nhà nước, nhân dân càng tin yêu quân đội, mối quan hệ máu thịt quân – dân càng thêm gắn bó, không một thế lực nào có thể tách rời được, không một khó khăn nào mà quân đội ta không vượt qua, không một kẻ thù nào mà quân đội ta không chiến thắng.

Trải qua mấy chục năm ròng phải đứng lên tiến hành cuộc chiến tranh chống xâm lược để giành độc lập, tự do dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, nhân dân ta phải chịu đựng biết bao đau thương mất mát, đất nước bị tàn phá, đời sống nhân dân khó khăn. Do đó, hơn ai hết, chúng ta hiểu rất rõ giá trị của cuộc sống độc lập hòa bình hôm nay và chúng ta mong muốn có sự hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.

Ngày nay, đất nước ta đã có hòa bình và ổn định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đang nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, năng động sáng tạo thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Con đường đẻ thực liíện mục tiêu này là tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mở rộng hợp tác quốc tế. Nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện nay là đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế gắn liền với công bằng xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, bảo đảm an ninh!

Bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, mà còn có nội dung mới rộng lớn là bảo vệ chế độ, thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng và nhân dân, bảo vệ công cuộc lao động hòa bình xây đựng đất nước. Nhiệm vụ nặng nề, mới mẻ vá rộng lớn đó đòi hởi phải xây dựng quân đội ta thực sự là một quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.

Nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội là mối quan tâm hàng đầu xây dựng quân đội. Quân đội phải thường xuyên nêu cao cảnh giác cách mạng, không ngừng rèn luyện nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật đến mức tinh thông, làm chủ và phát huy hiệu lực cao của các trang bị vũ khí hiện có, tinh nhuệ về quân sự, chuyên môn nghiệp vụ. Những truyền thống và kinh nghiệm về khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự của dân tộc ta trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước, những tinh hoa của nhân loại cần được vận dụng một cách sáng tạo với tư duy đổi mới trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Nhưng điều có ý nghĩa quyết định là nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối cách mạng của Đảng, kiên trì mục tiêu, lý tưởng con đường cách mạng đã chọn. Nắm vững phương châm lấy xây dựng chính trị làm cơ sở trong xây dựng nâng cao sức mạnh, chất lượng quân đội. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt, bảo đảm quân đội luôn luôn trung thành với Đảng, -Nhà nước và nhân dân.

Trong khi các thế lực thù địch đang ráo riết tiến hành “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ hòng chia rẽ Đảng và nhân dân khởi quân đội, phi chính trị hóa đi đến vô hiệu hóa quân đội, thì việc xây dựng chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị của quân đội có ý nghĩa hết sức quan trọng. Mặc dù ngày nay, quân đội ta đã trưởng thành với những binh đoàn lớn mạnh, nhưng lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Chính trị trọng hơn quân sự” cách đây tròn 50 năm trong buổi lễ tuyên thệ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, vẫn còn nóng hổi tính thời sự và tính nguyên tắc.

Quân đội còn phải thực hiện tốt chức năng đội quân lao động sản xuất và đội quân công tác. Đây là vấn đề thuộc về bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta. Ngày nay, tình hình kinh tế — xã hội, cuộc sống của nhân dân ta đã có những đổi thay, lao động sản xuất, làm công tác dân vận của quân đội phải bằng phẩm chất, năng lực và trí tuệ mà vận động, tuyên truyền giác ngộ quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị trong dân, cũng cố mối quan hệ máu thịt quân – dân, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, cũng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân.

Nửa thế kỷ qua, bằng mồ hôi, trí tuệ và xương máu, lớp lớp “Bộ đội Cụ Hồ” giữ vững bản chất giai cấp công nhân, vì nhân dân mà phục vụ, đã xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời khen của Bác Hồ “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Đảng, Nhà nước, nhân dân nhiệt liệt biểu dương các lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân đã cùng với đồng bào cả nước đoàn kết một lòng, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và đang ngày đêm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững ổn định chính trị. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cũng rất đỗi tự hào về sự trưởng thành lớn mạnh và những chiến công oanh liệt của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Qua các thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã không ngừng lãnh đạo, giáo dục quân đội, chăm lo xây dựng quân đội trưởng thành lớn mạnh, để quân đội ta cùng toàn dân đánh thắng mọi kè thù, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Ngày nay, trong khi tập trung sức phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, Đảng, Nhà nước, nhân dân luôn luôn coi trọng chăm lo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, cũng cố nền an ninh và quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân. Các ngành, các cấp, các địa phương cần làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình về quốc phòng và an ninh để tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc, cũng cố ổn định chính trị nhằm bảo đảm hòa bình, ổn định vững chắc để xây đựng đất nước về mọi mặt.

Cách mạng nước ta đang đứng trước những vận hội mới, nhưng cũng đang phải đối phó với những thách thức to lớn. Nhân dân ta dưới sự lãnh dạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất định sẽ tiến lên, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam nhận rõ trọng trách và vinh dự của mình, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, ra sức học tập, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ quân sự, chuyên môn nghiệp vụ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó, mãi mãi tận trung với nước, tận hiếu với dân, luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, của đất nước.

Đúng nửa thế kỷ trước đây, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố với quốc dân đồng bào và cộng đồng quốc tế bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và dộc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thắng lợi của con đường cứu nước do Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tìm ra. Đó là con đường giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc Việt Nam phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc, coi “công nông là gốc của cách mạng” dưới sự lãnh đạo của đội tiền phong của giai cấp công nhân; khi chủ nghĩa đế quốc trở thành kẻ thù bóc lột, thống trị toàn thế giới thì công cuộc giải phóng dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ với các dân tộc bị áp bức, các dân tộc thuộc địa, đoàn kết với phong trào công nhân và nhân dân lao động ở các nước đế quốc.

Đó là thành quả của 80 năm đấu tranh kiên cường, anh dũng, đầy gian khổ, hy sinh – tuy chưa thành công – của các phong trào yêu nước trước đó, từ vua quan và sĩ phu, trí thức, tiểu tư sản, binh lính… đến các tầng lớp nhân dân đông đảo.

Đó là thắng lợi của truyền thống quật cường bất khuất, lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Truyền thống đó vẫn tiềm ẩn trong lòng mỗi người dân Việt Nam trong những năm dài nô lệ, mất nước – đã được khơi dậy và bột phát mạnh mẽ khi thời cơ đến và có sự lãnh đạo đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam – phù hợp với quy luật của thời đại mới.

Đảng ta, với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đã đưa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc phát triển lên một chất lượng mới – gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng đông đảo nhân dân lao động, đáp ứng lợi ích cơ bản và cấp bách của nhân dân lao động là độc lập, tự do, cơm áo và hòa bình. Vì vậy, đã tạo nên những lực lượng mới, sức mạnh mới cho dân tộc ta từ những năm 30, nhất là từ khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu.

Đất nước ta kiệt quệ vì sự bóc lột thậm tệ gần một thế kỷ của đế quốc Pháp, càng thêm kiệt quệ do sự bóc lột, thống trị vô cùng dã man của cả hai kẻ thù, thực dân Pháp và phát xít Nhật, dẫn đến nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu – 1945 cướp đi hơn hai triệu sinh mạng… Quần chúng không thể sống được nữa. Bọn thống trị cũng không thể cai trị được nữa.

Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc. Lực lượng dân chủ thắng lợi; phát xít Nhật đầu hàng; thực dân Pháp hoang mang, dao động; bọn phong kiến suy tàn mất chỗ dựa… Đảng ta với thiên tài Hồ Chí Minh, với sự lãnh đạo sáng suốt, táo bạo và nhạy bén của Ban Chấp hành Trưng ương đứng đầu là Tổng Bí thư Trường Chinh, đã nắm được thời cơ ngàn năm có một, kịp thời phát động sự vùng lên mạnh mẽ của cả dân tộc ta, tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa trên cả nước, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là nhà nước dân chủ, nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Đó là nhà nước kiểu mới, nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân, đại biểu cho quốc gia – dân tộc, mang bản chất của giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước kia, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay, nhân dân Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam trong 50 năm qua đã trải qua một quá trình xây dựng và chiến đấu, dựng nước và giữ nước rất gay go, gian khổ, đầy dũng cảm và hy sinh, rất thông minh và sáng tạo. Quân và dân ta đã giành được những thắng lợi vĩ đại trong chiến đấu và cả trong xây dựng, những thắng lợi xứng đáng với thời đại – thời đại mới của xã hội loài người mở đầu bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga; thời đại mới của dân tộc Việt Nam – thời đại Hồ Chí Minh.

Vừa mới ra đời, Nhà nước Việt Nam độc lập còn rất non trẻ đã phải đương đầu ngay với nguy cơ thực sự đe dọa sự tổn tại của mình. Quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để giải giáp quân Nhật, đã mang theo cả âm mưu phá hoại, thôn tính, xâm lược nước ta, mặc dù nhân dân ta đã từng đứng về phía họ. Ở miền Nam, quân Anh cho quân Pháp núp bóng quay lại xâm lược Nam Bộ. Ở miền Bắc, gần 20 vạn quận Tưởng cùng bọn tay sai tìm mọi cách hòng bóp chết Chính phủ Hồ Chí Minh. Ngân khố quốc gia khánh kiệt, lụt lội, đói kém chưa qua, tàn quân Pháp quay lại quấy rối vùng rừng núi… Tất cả đặt cách mạng Việt Nam, nền độc lập mới giành được của Việt Nam trong tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”.

Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, năng động, linh hoạt và kiên quvết của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã vượt qua ghềnh thác và tiếp tục phát triển. Trong thời gian ngắn, rất ngắn, từ ngày 23 tháng 9 năm 1945, khi quân Pháp khởi hấn ở Nam Bộ, đến Kháng chiến toàn quốc ngày 19 tháng 12 năm 1946, hơn 15 tháng, Nhà nước ta, nhân dân ta đã hoàn thành những công việc vĩ đại đặt nền móng cho việc xây đựng một nước Việt Nam độc lập và thống nhất từ Bắc đến Nam. Nhanh chóng tiến hành Tổng tuyển cử trên cả nước, bầu ra Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng chính quyền nhân dân từ Trung ương đến cơ sở. Xây dựng khối đoàn kết toàn dân, động viên toàn dân kháng chiến, “Nam tiến” chống thực dân Pháp xâm lược, kiên quyết giữ vững độc lập, tự do. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội chính quy của Nhà nước Việt Nam độc lập… Đi đôi với tổ chức kháng chiến ở Nam Bộ, nhanh chóng xây dựng và chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho kháng chiến toàn quốc khi chiến tranh không thể tránh khởi, đã tiến hành một đường lối đối ngoại có nguyên tắc và hết sức mềm dẻo, thêm bạn, bớt thù, tranh thủ hòa bình, ngăn ngừa chiến tranh, cũng cố độc lập dân tộc… Ngày nay nhìn lại, ta càng thấy rằng những tháng năm ấy quả là một chặng đường lịch sử đặc biệt của cách mạng Việt Nam, thể hiện tập trung thiên tài Hồ Chí Minh đả đảm bảo cho nền độc lập trứng nước của Việt Nam không bị thủ tiêu, mà trái lại đã đứng vững trong những hoàn cảnh hết sức hiểm nghèo. Nhờ vậy, nhân dân ta đã bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc với tư thế sẵn sàng của người làm chủ đất nước.

Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân ta đã lợi dụng thời cơ có lợi giành được chính quyền, nhưng có thể đương đầu thắng lợi với chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp hay không ? Đáp số của bài toán đó đã được Hồ Chí Minh đưa ra dần và được khẳng định: kháng chiến toàn dân và toàn diện. đánh lâu dài, tự lực cánh sinh, vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

Những sáng tạo của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong kháng chiến chống Pháp, về mặt chiến đấu không thế tách rời mặt xây dựng, đặc biệt theo tư tưởng “vừa kháng chiến vừa kiến quốc” của Hồ Chí Minh, chủ trương “chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” của Hồ Chí Minh. Trong chiến tranh, chế độ mới của nước Việt Nam độc lập, chế độ dân chủ nhân dân từng bước được xây dựng, phát triển, đáp ứng ngày càng nhiều những yêu cầu bức thiết của kháng chiến, đồng thời từng bước đặt nền móng cho việc xây dựng đất nước sau chiến tranh. Hệ thống chính quyền các cấp tiếp tục được cũng cố và phát huy hiệu lực từ Trung ưong đến thôn, bản, trên cả nước, kể cả trong nhiều vùng địch tạm chiếm. Nền kinh tế dân chủ nhân dân đã phát triển ngay trong chiến tranh, phù hợp với thời chiến, xóa dần những quan hệ phong kiến thực dân, xây dựng từng bước những quan hệ sản xuất mới. Phong trào thi đua tăng gia sản xuất ở hậu phương sôi nổi cùng phong trào thi đua giết giặc lập công ở tiền tuyến. Nền tài chính độc lập ra đời, giấy bạc Việt Nam được lưu hành, có giá trị trên các vùng tự do và có phần ở một số vùng địch tạm chiếm. Nền giáo dục mới mang tính nhân dân, cách mạng được xây dựng từng bước, tập trung làm nhiệm vụ xóa nạn mù chữ, đồng thời phát triển phù hợp các bậc tiểu học, trung học và đại học. Xây dựng các mối quan hệ xã hội mới mang đậm tính dân chủ, bình đẳng, hợp tác giữa các công dân thông qua xây dựng nền kinh tế mới, nền văn hóa mới, xây dựng hệ thống chính trị, thực hiện các chính sách xã hội. Xây dựng, phát triển ngày càng mạnh và cân đối lực lượng vũ trang nhân dân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, công an nhân dân, dân quân du kích. Đẩy mạnh sản xuất để cải thiện dân sinh, phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Xây dựng, phát triển nền công nghiệp kháng chiến từ Trung ương đến khu, tỉnh, có nơi đến cấp xã để sản xuất, sửa chữa vũ khí và góp phần phục vụ sản xuất. Xây dựng, phát triển hậu phương của kháng chiến, hậu phương của cả nước, hậu  phương của từng chiến trường và “hậu phương tại chỗ” của địa phương. Phát triển tình đoàn kết, hữu nghị, ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau giữa ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia; tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa nước Việt Nam độc lập với Liên Xô, Trung Quốc, nhiều nước dân chủ, nhiều tổ chức cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Cuối và sau kháng chiến, ta đã phạm sai lầm lớn trong thực hiện cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức; Đảng ta và Hồ Chí Minh đã công khai tự phê bình và kiên quyết sửa sai.

Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân ta, Nhà nước ta bước vào một giai đoạn mới; từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc được giải phóng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Ở miền Nam, Hiệp nghị Giơ-ne-vơ bị phá hoạ: kẻ thù tiến hành khủng bố rất dã man, buộc nhân dân ta đứng lên đấu tranh để tự vệ và tiến hành chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, tiếp tục cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, hòa bình thống nhất Tổ quốc.

Đường lối cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Đảng – tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc – đã tổ chức và động viên, được những lực lượng mới – độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – trên cả hai miền Nam – Bắc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chiến đấu và xây dựng phù hợp với hoàn cảnh mới.

Nhân dân ta, Nhà nước ta đã tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân phát triển rất cao – bao gồm chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc ở miền Nam và chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ – một nước đế quốc có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất thế giới.

Công cuộc bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc được tiến hành trong điều kiện đất nước chia làm hai miền. Nhân dân và các lực lượng vũ trang ta có sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác và cả loài người tiến bộ, kể cả một bộ phận quan trọng nhân dân Mỹ. Thành tựu lớn nhất là từng bước thủ tiêu chế độ người áp bức, bóc lột người, xây dựng quyền làm chủ của nhân dân lao động. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao phù hợp với thời chiến đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Tự giải quyết được phần lớn lương thực cho nhu cầu chiến tranh và nhu cầu dân sinh trong thời chiến. Xây dựng được những cơ sở đầu tiên của công nghiệp nặng; phát triển công nghiệp nhẹ. Mở rộng hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường sông, đường không… đáp ứng cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam. Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa phát triển mạnh, cứ 3 người dân thì có một người đi học; xã có trường phổ thông cấp II, huyện có trường phổ thông cấp III. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ quản lý được đào tạo cơ bản từ trình độ trung học chuyên nghiệp đến đại học và trên đại học gồm hơn 40 vạn người. Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng lớn mạnh vượt bậc, đã lãnh đạo và điều hành, động viên lực lượng cả nước chiến đấu, xây dựng và chiến thắng một cách rất thông minh, sáng tạo.

Sản phẩm và thành tựu đặc biệt của chủ nghĩa xã hội bước đầu được xây dựng ở miền Bắc là đã đào tạo nên những con người mới, những công dân được giải phóng khởi ách nô dịch dân tộc và áp bức giai cấp. Những con người này cùng với cơ sở vật chất – kỹ thuật đầu tiên của chủ nghĩa xã hội, đã phát huy được vai trò quyết định nhất của miền Bắc cùng với vai trò quyết định trực tiếp của miền Nam giành toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cần khẳng định rằng thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng là cơ sở cho công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay, cho công cuộc xây đựng đất nước về lâu dài, tuy rằng mô hình đó của chủ nghĩa xã hội có những khuyết tật cần sửa chữa, đổi mới. Không đổi mới, sửa chữa những khuyết tật đó là không đúng, nhất là khi điều kiện, hoàn cảnh đã thay đổi. Nhưng phủ định những thành tựu đó là rất sai lầm.

Dân tộc Việt Nam đã chiến thắng không chỉ bằng ý chí quyết chiến quyết thắng, mà bằng cả trí tuệ và tài tổ chức chiến đấu cũng như xây dựng đất nước trong những hoàn cảnh rất quyết liệt của chiến tranh.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã đưa dân tộc ta tiến hẳn vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây dựng đất nước theo định hướng chủ nghĩa xã hội, được mở ra từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Ngày nay, xây dựng được coi là nhiệm vụ hàng đầu; đồng thời thường xuyên cũng cố quốc phòng – an ninh, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ.

Những năm đầu sau thắng lợi của kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhân dân ta đã phải tiếp tục chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế, và tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Nhưng đồng thời Đảng ta và Nhà nước ta đã phạm một số khuyết điểm và sai lầm chủ quan duy ý chí mà Đảng ta đã tự phê bình nghiêm khắc tại Đại hội VI của Đảng, và đề ra đường lối đổi mới đúng đắn từ đó đến nay.

Những thắng lợi bước đầu nhưng rất quan trọng của quân và dân ta trong mười năm gần đây về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại theo đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo của Đảng, trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đã từng bước đặt cơ sở cho cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây dựng đất nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, phục vụ ngày càng tốt đời sống vật chất và tinh thần của cả cộng đồng dân tộc, nhất là của nhân dân lao động – lao động chân tay và lao động trí óc.

Nhìn lại nửa thế kỷ chiến đấu và xây dựng, dựng nước và giữ nước, chúng ta có thể tự hào một cách chính đáng về nhân dân lao động nước ta và dân tộc ta, về Đảng ta và Nhà nước ta. Tự hào về những gì đã làm được, về những thắng lợi vĩ đại trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc mà nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân, là quân đội nhân dân anh hùng. Đánh giá đúng những thành tựu trong xây dựng – những thành tựu còn rất khiêm tốn  nhưng đạt được trong những hoàn cảnh rất quyết liệt của nhiều thập kỷ chiến tranh. Đồng thời nhận rõ những gì chưa làm được, thẳng thắn và công khai thừa nhận những khuyết điểm, sai lầm mà Đảng và Nhà nước ta đã mắc phải, thường xảy ra sau mỗi lần thắng lợi! chủ quan, tự mãn, xa rời thực tế, xa rời quần chúng, giáo điều, máy móc.

Cương lĩnh của Đảng ta được Đại hội VII thông qua đã nêu ra 5 bài học lớn của cách mạng Việt Nam: một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; ba là, không ngừng cũng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Nước, bài này chỉ nhấn mạnh một số nội dung từ trong các bài học mà Đại hội VII (và Đại hội VI) đã tổng kết.

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhằm đem lại độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc, cơm áo, tự do, hòa binh, hạnh phúc cho nhân dân, giải phóng nhân dân lao dộng thoát khởi mọi ách áp bức và phát huy năng lực sáng tạo cho mỗi người. Đó là khát vọng, là quyền lợi cơ bản, thiết thân của nhân dân lao động của cả dân tộc. Đó cũng là động lực, là sức mạnh vô địch đánh thắng mọi kẻ thù hung bạo nhất to mạnh nhất, giành độc lập cho dân tộc, tự do, cơm áo cho nhân dân lao động, giành hòa bình, thống nhất cho Tổ quốc.

Ngày nay, Đảng ta và Nhà nước ta càng phải kiên định mục tiêu trên đây. Tập trung sức đẩy mạnh công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết cơ bản vấn đề cơm áo, chóng lạc hậu, nghèo nàn, tiếp tục từng bước giải phóng người lao động, từng bước giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó cũng là quá trình cũng cố ngày càng vững chắc và phát triển ngày càng mạnh mẽ nền độc lập dân tộc, độc lập dân tộc trên cơ sở của chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở lợi ích của nhân dân lao động, của cả dân tộc.

Đảng ta, Nhà nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập luôn luôn coi sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vi nhân dân; phải lấy dân làm gốc, “dân là chủ” và thực hiện “dân làm chủ”. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã khẳng định, muốn phát huy được sức mạnh của dân, dựa chắc vào dân, vấn đề cơ bản là phải đáp ứng được quyền lợi của nhân dân lao dộng, của cả dân lộc; cán bộ, đảng viên phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Toàn bộ đường lối, chủ trương, chính sách, cũng như toàn bộ hoạt động của Đảng và Nhà nước ta phải quán triệt tinh thần đó.

Để bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân, thực hiện đúng tư tưởng Bác Hồ “dân là chủ” và “dân làm chủ”, phải xây dựng được một bộ máy nhà nước cách mạng, mạnh gọn, có hiệu lực để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống. Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm cho Nhà nước ta xây dựng, phát triển theo đúng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước ta phải thực sự đại biểu cho quyền lợi của quốc gia – dân tộc, thực sự bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân chứ không phải thuộc về một số ít người trong bộ máy cầm quyền. Đó là một nhà nước trong sạch, thường xuyên loại trừ ra khởi tổ chức và hoạt động của mình những tệ nạn rất xa lạ với bản chất của Nhà nước ta, như: cửa quyền, tham nhũng, đè nén, áp bức nhân dân… Đó còn là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có hiệu lực, từng bước hiện đại, được tổ chức theo luật, quản lý và điều hành đất nước theo luật, mọi công dân đều bình dẳng trước luật. Hệ thống pháp luật đó – Hiến pháp, các đạo luật, các văn bản dưới luật phải phản ánh lợi ích của nhân dân lao động, của dân tộc, bảo đảm cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Một nhà nước như vậy theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Người chăm lo xây dựng ngay từ những ngày đầu thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và trong nhiều năm dài của kháng chiến, cần được tiếp tục phát triển trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Đảng và Nhà nước ta, vì lợi ích của nhân dân lao động, của dân tộc, luôn luôn chăm lo cũng cố, phát triển khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn dân tộc. Động viên, thu hút mọi người Việt Nam yêu nước, yêu độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và hòa bình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay. Cũng cố và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức quần chúng, khắc phục hiện tượng “hành chính hóa” các tổ chức này. Thực sự làm cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát triển rộng lớn, vững chắc, tiêu biểu cho sức mạnh của nhân dân, của toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, ấm no, tự do, hòa bình và hạnh phúc.

Trong nửa thế kỷ tồn tại của mình, Nhà nước ta, trong khi buộc phải tập trung sức tiến hành chiến tranh thắng lợi suốt mấy thập kỷ liền, luôn luôn coi trọng nhiệm vụ xây dựng, khéo kết hợp xây dựng với chiến đấu phù hợp với mối hoàn cảnh cụ thể, vừa nhằm phục vụ cho chiến thắng, vừa từng bước đặt nền móng cho nhiệm vụ xây dựng đất nước sau chiến tranh, xây dựng đất nước về lâu dài. Đó là vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, quy luật xây dựng kết hợp với bảo vệ của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong thực tế, xây dựng đã thực sự tạo ra sức mạnh cho các cuộc chiến tranh yêu nước giành thắng lợi đối với các nước đế quốc to, đồng thời từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân theo lời dạy của Bác Hồ: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì”.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Nhà nước ta có điều kiện tập trung thực hiện chức năng cơ bản và chủ yếu của Nhà nước cách mạng là tổ chức và xây dựng, thực hiện nhiệm vụ hàng đầu xây dựng đất nước trong hòa bình, kết hợp xây dựng đất nước với bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn, an ninh và thành quả cách mạng.

Một vấn đề quan trọng của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là, nêu cao hơn nữa tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ra sức cũng cố, phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác với các quốc gia – dân tộc trên thế giới. Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường chính là trước hết phải dựa hẳn và tin tưởng vững chắc vào sức mạnh, trí tuệ, khả năng của nhân dân lao động, của dân tộc ta. Điều quan trọng nhất là phải độc lập, tự chủ trong đường lối cách mạng, tự mình quyết định một cách đúng đắn, sáng tạo những vấn đề lớn của dân tộc mình, của đất nước mình. Thắng lợi trong sự nghiệp giành và giữ độc lập tự do vừa qua, của công cuộc đổi mới ở nước ta trong 10 năm lại đây, trong hoàn cảnh tình hình thế giới biến đổi cực kỳ phức tạp, chứng tỏ tinh thần độc lập tự chủ của Đảng và Nhà nước ta. Hơn nữa, còn khẳng định nhân dân ta là một dân tộc rất cách mạng, sẵn sàng vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo để vươn lên tự mình làm chủ vận mệnh của mình. Mặt khác, cần tinh táo để phòng và loại trừ những biểu hiện mới giáo điều, rập khuôn, ỷ lại, thiếu tự tin, tự hào và tự trọng dân tọc trong sự nghiệp đổi mới, trong quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng.

Trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, cần tăng cường và mở rộng tình hữu nghị và sự hợp tác với mọi quốc gia – dân tộc trong khu vực và trên thế giới, vì hòa bình, dan chủ và phát triển. Đó là tiếp tục vận dụng nhuần nhuyễn bài học kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời dại trong tình hình mới.

50 năm tồn tại và phát triển của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước đây và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay khẳng định chân lý sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước ta, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra Nhà nước Việt Nam độc lập đã trực tiếp xây dựng, tổ chức và lãnh đạo Nhà nước ta suốt năm thập kỷ qua. Nhờ vậy Nhà nước ta đã giữ vững bản chất giai cấp công nhân, thực hiện ngày càng tốt nhà nước của dân, do dân và vì dân, nhà nước của dân tộc, nhà nước dân chủ. Nhờ vậy cách mạng nước ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, đánh thắng mọi kẻ thù, giành thắng lợi này đen thắng lợi khác.

Ngày nay, càng phải tăng cường hơn nữa, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đối với cả hệ thống chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng, nhất là trong lúc nhiều loại lực lượng đang ra sức tiến công vào sự lãnh đạo của Đảng hòng làm biến chất Nhà nước ta và làm chệch hướng của cách mạng nưởc ta. Sự phát triển mới, toàn diện của đất nước, hình thái mới của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, sứ mạng mới của Đảng cầm quyền đòi hỏi Đảng ta phải tự chỉnh đốn, đổi mới, luôn luôn tự chỉnh đốn và đổi mới, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu lực lãnh đạo của Đảng đối với quốc gia – dân tộc trong thời kỳ mới.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã hồi sinh. Việt Nam đã lấy lại tên của mình trên bản đồ thế giới, qua thắng lợi của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược của những nước đế quốc to, và bắt đầu cả trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc và hòa nhập vào cộng đồng thế giới trên tư thế một nước Việt Nam độc lập, tự chủ và tự tin.

50 năm của nước Việt Nam độc lập và dân chủ thời đại Hồ Chí Minh, chỉ là một quảng thời gian rất ngắn trong lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam kể từ thời đại Vua Hùng.

Nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam hiểu rõ, và sẽ ngày càng hiểu rõ hơn những gì đang đặt ra cho mình trước bối cảnh toàn nhân loại đang chuẩn bị hành trang để bước sang thế kỷ thứ XXI. Nhưng – từ kinh nghiệm của lịch sử lâu dài trong thời đại trước đây và lịch sử nửa thế kỷ của thời đại ngày nay – chúng ta có đầy đủ căn cứ để tin tưởng rằng, nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhất định sẽ tiến lên trong trào lưu chung của thế giới, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh, hòa nhập vào dòng chảy chung của nhân loại trong khi vẫn giữ vững và phát triển bản sắc dân tộc của Việt Nam trong thế giới hiện đại.

Hơn lúc nào hết, chúng ta tưởng nhớ đến triệu triệu đồng bào và chiến sĩ đã bỏ mình cho đất nước độc lập tự do, nở hoa kết trái. Nhà nước ta ghi công và ghi ân tất cả đồng bào, đồng chí, anh – em, bè bạn gần xa đã góp phần xứng đáng của mình cho nước Việt Nam độc lập, đang tiến dần lên phồn vinh, ấm no và hạnh phúc.

Hơn lúc nào hết, chúng ta tưởng nhớ đến lãnh tụ Hồ Chí Minh vô cùng kính mến, đã khai sinh ra nước Việt Nam mới, dẫn dắt toàn dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác qua những năm dài chiến đấu và xây dựng rất gian khổ và khó khăn. Đại hội VII của Đảng đã đặt tư tưởng Hồ Chí Minh – cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin – là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đó là một thành tựu tư duy chiến lược xuất sắc của Đảng ta. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn là nền tảng tư tưởng và kim chi nam cho hành dộng của Đảng, của Nhà nước, của toàn dân và toàn quân ta.

Nêu cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo lời Bác dạy, phát triển và tiếp tục đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống. Đó là bí quyết đưa dân tộc ta, đưa mỗi người chúng ta không ngừng tiến lên, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người “Xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà, vì lợi ích của nhân dân lao động, lợi ích của cả dân tộc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”, góp phần vào hòa bình và phát triển trên thế giới, cho tình hữu nghị giữa tất cả các dân tộc trên khắp hành tinh.

Diễn văn dọc tại Lễ hỷ niệm trọng thể lần thứ 50 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Thưa đồng bào và chiến sĩ thân mến,

Thưa các đồng chi và các bạn thân mến,

Thưa các vị khách quý quốc tế,

Hôm nay kỷ niệm trọng thể lần thứ 50 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh mồng 2 tháng 9, toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sĩ từ đất liền đến các hải đảo xa xôi, đồng bào ta ở nước ngoài đều phấn khởi và tự hào hướng về Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi cách đây nửa thế kỷ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập cho Tổ quốc thân yêu của chúng ta.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nền độc lập của nước Việt Nam được khôi phục sau nhiều thập kỷ bị nước ngoài đô hộ – một nước Việt Nam mới – nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, mở đầu thời đại mới cho dân tộc ta. Đó là thời đại giải phóng dân tộc, gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người, cho cả dân tộc Việt Nam, cho muôn đời con cháu mai sau.

Năm mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta vừa đấu tranh anh dũng vừa xây dựng đất nước với biết bao gian khổ, hy sinh và đã giành được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử và tính thời đại sâu sắc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta được vẻ vang như ngày nay là nhờ có dân tộc ta anh hùng, có mặt trận đoàn kết toàn dân thành một khối vững chắc, có Nhà nước ta ngày càng vững mạnh, có lực lượng vũ trang và quân đội nhân dân anh hùng, có sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và nhân dân tiến bộ trên thế giới có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Tại buổi lễ kỷ niệm trọng thể này, chúng ta thành kính tưởng nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại và muôn vàn kính yêu của dân tộc. Chúng ta kính cẩn nghiêng mình trước vong linh các bậc tiền bối, các liệt sĩ đồng bào, đồng chí, chiến sĩ đã hy sinh oanh liệt vì Tổ quốc, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả. Chúng ta thân ái gửi tới các gia đình liệt sĩ, thương binh, các gia đình có công với nước, các đồng chí cách mạng lão thành, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng lòng biết ơn vô hạn và những tfnh cảm thắm thiết nhất. Chúng ta thân ái gửi lời thăm hỏi ân cần tới đồng bào ta sinh sống ở nước ngoài nhưng luôn luôn hướng về Tổ quốc thân yêu.

Thay mặt nhân dân, Đảng và Nhà nước ta, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến nhân dân, Chính phủ các nước anh em và bầu bạn, đến các Đảng Cộng sản và công nhân, các dân tộc yêu chuộng hòa bình và công lý, các tổ chức quốc tế, các vị nhân sĩ, trí thức, nhân dân tiến bộ trên thế giới về sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.

Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sĩ,

Thưa các bạn,

Thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến, kiến quốc và thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới trong hoàn cảnh hiểm nghèo đã khẳng định con đường mà nhân dân ta đang đi là đúng đắn, tương lai của đất nước là tốt đẹp. Hướng tới Đại hội lần thứ VIII của Đảng, nhân dân ta cần nỗ lực hơn nữa phát huy thắng lợi, tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy lùi tiêu cực, thực hành cần kiệm liêm chính, tập trung trí tuệ và lực lựợng, hoàn thành thắng lợi kế hoạch Nhà nước năm 1995 ; tiến lên hoàn thành xuất sắc mục tiêu, nhiệm vụ đến năm 2000, tạo tiền đề cho đất nước phát triển mạnh mẽ, vững chắc, toàn diện vào đầu thế kỷ tới.

Chúng ta tiếp tục mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt hơn nữa với tất cả các nước, vì hòa bình và phát triển. Chúng ta mãi mãi là người bạn chân thành và thủy chung của các dân tộc trên hành tinh này.

Nhân dịp lễ kỷ niệm trọng thể hôm nay, thay mặt Đảng và Nhà nước, tôi kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hãy đoàn kết một lòng, phát huy truyền thống – cách mạng anh hùng của dân tộc, nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, tự lực tự cường, giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền và an ninh quốc gia, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nước nhà, vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân lao dộng, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tất cả vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và giàu mạnh !

Tất cả vì tự do và hạnh phúc của nhân dân !

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta !

Scroll to Top