Đại tướng Lê Đức Anh – Nhà chính trị, quân sự tài năng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú và vẻ vang, đồng chí Lê Đức Anh đã được giao đảm nhiệm và hoàn thành xuất sắc nhiều trọng trách trong quân đội, Đảng và Nhà nước. Là một vị tướng tài năng, quả cảm, một vị chỉ huy sắc sảo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong thời chiến; nhà lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, quyết đoán trong thời bình, với đạo đức cách mạng trong sáng, Đại tướng Lê Đức Anh thực sự xứng đáng là một nhà chính trị, quân sự tài năng, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

1. Sớm đi theo con đường cách mạng vô sản

Với tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, thừa hưởng truyền thống tốt đẹp của gia đình, Lê Đức Anh đã sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng. Trong thời gian học tiểu học ở Vinh, Lê Đức Anh đã được tiếp xúc với những cán bộ cách mạng và tìm đọc những sách báo tiến bộ như Nhành lúa, Lao động, Thời báo, Vấn đề dân cày, Đông Dương với vấn đề phòng thủ…, những tài liệu về nước Nga Xôviết. Qua các sách báo tiến bộ, Lê Đức Anh biết đến chủ nghĩa cộng sản và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, từ đó càng thôi thúc người thanh niên yêu nước dấn thân vào phong trào đấu tranh giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – con đường cách mạng mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Năm 1937, đồng chí Lê Đức Anh tham gia phong trào cách mạng dân chủ ở Phú Vang, Thừa Thiên Huế. Đồng chí được giao nhiệm vụ đi vận động lấy chữ ký của nông dân các làng vào bản yêu sách đối với chính quyền thực dân Pháp. Đi đến đâu, đồng chí cũng nỗ lực tuyên truyền cho nhân dân về tình hình đất nước, bàn cách đấu tranh đòi giảm sưu thuế, đòi tự do, dân chủ… Do những hoạt động tích cực và hiệu quả đó, tháng 5/1938, đồng chí Lê Đức Anh được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương khi mới 18 tuổi.

Trong những năm 1939-1944, đồng chí hoạt động trong các hội ái hữu tại Hội An, Đà Lạt, Lộc Ninh, Thủ Dầu Một và các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Quản Lợi, Xa Can, Xa Cát. Đầu năm 1943, Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một được tái lập, đồng chí Lê Đức Anh được bổ sung vào Tỉnh ủy, phụ trách chỉ đạo phong trào Lộc Ninh và toàn bộ vùng phía Bắc của tỉnh. Tháng 02/1944, chi bộ Đảng thành lập ở Lộc Ninh do đồng chí làm Bí thư. Dưới sự chỉ đạo sâu sát của đồng chí, trong một thời gian ngắn các nghiệp đoàn ở vùng đồn điền cao su, các đoàn thể Việt Minh ở Thủ Dầu Một phát triển nhanh chóng. Đến đầu năm 1945, khi thời cơ cho Tổng khởi nghĩa đang đến gần, đồng chí được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng trung kiên trong các nghiệp đoàn, chuẩn bị đấu tranh vũ trang. Đồng chí được giao trực tiếp phụ trách các quận Hớn Quản, Bù Đốp và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, sau khi giành chính quyền sẽ tổ chức lực lượng chi viện cho thị xã Thủ Dầu Một, Sài Gòn cướp chính quyền.

2. Trở thành một nhà quân sự tài năng của cách mạng Việt Nam

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Lê Đức Anh tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Đông Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước và chiến tranh bảo vệ biên giới, đồng chí luôn có mặt ở những địa bàn chiến trường trọng yếu, khó khăn, ác liệt, trải qua nhiều vị trí trên chiến trường. Trong mọi hoàn cảnh, đồng chí luôn nỗ lực vượt qua khó khăn, thể hiện là nhà chỉ huy quân sự tài năng, có tầm nhìn chiến lược, mưu trí, dũng cảm, quyết đoán, nhưng cũng rất linh hoạt xử lý các tình huống phức tạp.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng chí được giao đảm nhiệm các chức vụ: Tham mưu trưởng Quân khu 7, Quân khu 8, Quân khu Sài Gòn – Chợ Lớn; Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Trong bối cảnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ diễn ra đầy gay go, quyết liệt, đồng chí luôn bám sát thực tiễn, đẩy mạnh chiến tranh du kích, có nhiều sáng tạo trong đánh phá chiến thuật xây dựng đồn bốt, tháp canh của thực dân Pháp, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương năm 1954, đồng chí Lê Đức Anh tập kết ra Bắc. Từ năm 1955 đến năm 1963, đồng chí là Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục phó, Cục trưởng Cục Quân lực – Bộ Tổng Tham mưu và trở thành Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đầu năm 1964, đồng chí Lê Đức Anh trở lại chiến trường miền Nam, đảm nhiệm các chức vụ Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy miền; Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam; Tư lệnh Khu 9, Phó Bí thư Khu uỷ, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền; Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam. Trên các cương vị này, đồng chí đã cùng với các đồng chí trong Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền đề ra các chiến lược quân sự, nhiều kế hoạch tác chiến chiến lược ở chiến dịch lớn, tạo nên bước ngoặt của chiến tranh. Trên chiến trường đối đầu trực diện với kẻ thù, đồng chí đã thể hiện bản lĩnh của một vị tướng tài năng, không chùn bước trước hy sinh, gian khổ, lăn lộn với thực tế, sát cánh cùng bộ đội, để tìm ra những cách đánh hiệu quả, táo bạo, giảm thiểu hy sinh xương máu của chiến sĩ và đồng bào. Dưới sự chỉ huy của đồng chí, Quân giải phóng đã giành nhiều thắng lợi quan trọng như: Đánh bại cuộc hành quân mang tên Gianxơn Xiti của Mỹ tấn công căn cứ của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền ở Tây Ninh năm 1967; giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968; chống địch lấn chiếm, phá hoại Hiệp định Pari năm 1973 trên địa bàn Khu 9. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí trực tiếp chỉ huy cánh quân tiến công trên hướng tây – tây nam Sài Gòn (Đoàn 232), góp phần vào thắng lợi chung của toàn quân, toàn dân trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Với đóng góp xuất sắc của mình, đồng chí là một trong hai sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được phong hàm vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng vào tháng 4/1974.

Đất nước thống nhất, hòa bình chưa được bao lâu thì cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ. Đồng chí là một trong những tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến trường, bảo vệ biên giới của Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.

Trên cương vị Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam, đến năm 1982 là Trưởng ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia giúp Campuchia, đồng chí đã quán triệt nghiêm túc đường lối đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam “giúp bạn tức là mình tự giúp mình”; nêu cao tinh thần tôn trọng độc lập, tự chủ của bạn, thường xuyên rèn luyện cho cán bộ, bộ đội tình nguyện tính tổ chức kỷ luật cao; đồng thời hết lòng giúp đỡ nhân dân nước bạn, không nề hà gian khổ, cứu đói, cứu đau, giúp người dân khôi phục sản xuất. Với những đóng góp xuất sắc trong thời gian làm nhiệm vụ tại Campuchia, đồng chí đã hai lần được thăng quân hàm, từ Trung tướng lên Thượng tướng năm 1981 và Đại tướng năm 1984.

Năm 1987, Đại tướng Lê Đức Anh được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp, tình hình trong nước chồng chất khó khăn, đồng chí đã tập trung lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Qua “nhiều đêm chúng tôi phải thức trắng để làm việc”, đồng chí chọn khâu đột phá để củng cố quân đội là giảm số quân thường trực, giảm ngân sách quốc phòng, chú trọng xây dựng công nghiệp quốc phòng tự chủ, điều chỉnh bố trí chiến lược và triển khai trên toàn quốc thế trận “chiến tranh nhân dân” và nhiệm vụ “quốc phòng toàn dân”. Đồng chí kiến nghị Đảng và Nhà nước có chính sách cụ thể cải thiện đời sống bộ đội tại ngũ, giải quyết việc làm và đời sống cho cán bộ, chiến sĩ xuất ngũ. Nhờ vậy, tuy lực lượng giảm đi, nhưng sức mạnh phòng thủ và chiến đấu của quân đội được tăng cường.

Bên cạnh đó, với tầm nhìn chiến lược, Đại tướng Lê Đức Anh nhận ra vấn đề cấp thiết là tăng cường phòng thủ bờ biển, hải đảo và thềm lục địa. Tháng 5/1988, đồng chí trực tiếp kiểm tra tình hình ở quần đảo Trường Sa. Sau đó, đồng chí nhiều lần đến các vùng biển chiến lược, cùng với các đồng chí trong Quân ủy Trung ương xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc, bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Đi qua các cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc trong hơn 40 năm từ Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, sau đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lê Đức Anh để lại sự nghiệp quân sự vẻ vang, gắn liền với những thắng lợi to lớn của dân tộc, xứng đáng là nhà quân sự tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam.

3. Một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của đất nước thời đổi mới

Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới với hàng loạt vấn đề nan giải, cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng chí Lê Đức Anh trăn trở, tìm tòi, đề ra và chỉ đạo thực hiện nhiều quyết sách để tái thiết đất nước, phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước. Trong những năm đầu đổi mới, bên cạnh lĩnh vực quốc phòng, dấu ấn nổi bật của đồng chí phải kể đến là những đóng góp trong lĩnh vực ngoại giao. Trong cuộc họp tại Bộ Quốc phòng đầu năm 1987, đồng chí đề xuất tiến hành phá thế bao vây cấm vận của Mỹ và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, tìm cách gia nhập ASEAN. Bộ Chính trị chấp thuận và đã giao cho Bộ Quốc phòng mà trực tiếp là đồng chí Lê Đức Anh lo đoạn “mở đầu” nhiệm vụ phá thế bao vây cấm vận của Mỹ. Thời điểm ấy, giữa Việt Nam và Mỹ chưa có một kênh tiếp cận chính thức nào. Sau khi phân tích kỹ lưỡng tình hình, đồng chí Lê Đức Anh đã tìm ra những bước đi khôn khéo và sáng tạo là chọn con đường tiếp cận từ hoạt động khoa học qua chiến dịch “Phẫu thuật nụ cười” và hoạt động nhân đạo “Tìm kiếm người Mỹ mất tích – MIA” để mở ra khâu đột phá trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ.

Khi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lê Đức Anh còn được giao hai nhiệm vụ ngoại giao quan trọng là tham gia giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, đồng chí đã bắt đầu công việc bằng hai kênh: ngoại giao nhân dân và ngoại giao bí mật. Đồng chí vào Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức gặp mặt bà con Hoa kiều Chợ Lớn để trao đổi về việc thiết lập lại quan hệ tốt đẹp vốn có của hai nước. Bên cạnh đó, đồng chí có 4 cuộc gặp với Đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy tại Nhà khách Bộ Quốc phòng để bàn chuyện bình thường hoá quan hệ hai nước. Đến cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên của Bộ Chính trị sang Trung Quốc bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Sau chuyến đi tiền trạm thành công, tháng 11/1991, Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thăm chính thức Trung Quốc, sau lễ đón tiếp và hội đàm, hai bên ra Thông cáo chung và ký Hiệp định chính thức bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, hai Đảng, khép lại 15 năm đối đầu căng thẳng.

Quán triệt nguyên tắc độc lập, chủ quyền mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra, Đại tướng Lê Đức Anh khẳng định và thực hiện nhất quán quan điểm: Trong quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc, ta cần suy nghĩ rất kỹ và dĩ nhiên phải đứng trên lập trường độc lập, lợi ích dân tộc của ta là tối thượng. Với việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và phá thế bao vây cấm vận của Mỹ, nước ta bước sang một thời kỳ mới – thời kỳ hội nhập với quốc tế.

Năm 1992, đồng chí Lê Đức Anh được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1992-1997. Đây là giai đoạn Việt Nam triển khai toàn diện công cuộc đổi mới với nỗ lực cao của toàn Đảng, toàn dân. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều bất lợi với ta, đặc biệt sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, đảm nhiệm trọng trách mới, đồng chí cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trăn trở, tìm tòi biện pháp, quyết sách đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố an ninh – quốc phòng và mở cửa hội nhập quốc tế, từ đó củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ. Trên cương vị nguyên thủ quốc gia, đồng chí đã nhiều lần dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam đến thăm các nước, các tổ chức quốc tế và ký kết nhiều hiệp định, điều ước quốc tế quan trọng và để lại những ấn tượng và tình cảm tốt đẹp với các quốc gia, cộng đồng quốc tế. Năm 1995, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, chính thức gia nhập ASEAN, thiết lập quan hệ ngoại giao với 164 nước. Trong thành công nổi bật đó, có dấu ấn của Chủ tịch nước Lê Đức Anh.

4. Một nhân cách đức độ, giản dị, gần gũi

Từ khi đi theo con đường cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc đã lựa chọn, tuy không có điều kiện được tiếp xúc nhiều với Người, nhưng đồng chí luôn phấn đấu, học tập theo gương lãnh tụ Hồ Chí Minh, luôn đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết; tu dưỡng và thực hành đạo đức của người cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Từ khi mới tham gia cách mạng cho đến khi trở thành Đại tướng, trên cương vị Chủ tịch nước và cả khi đã nghỉ hưu, đồng chí luôn trăn trở việc dân, việc nước, làm thế nào “cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng một xã hội sung sướng, vẻ vang” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Trong thời chiến, đồng chí không nề hà xông pha những chiến trường ác liệt, nguy hiểm, luôn giữ vững thế tiến công, linh hoạt trong cách đánh và có những quyết định táo bạo, gây bất ngờ cho địch. Trong thời bình, khi tham gia lãnh đạo đất nước trong bối cảnh đầy khó khăn, đồng chí đã thể hiện trí tuệ, bản lĩnh, tầm nhìn sâu rộng đối với những vấn đề chiến lược của đất nước. Năm 1988, sau khi Trung Quốc vừa mới gây chiến và vẫn tiếp tục tuần tiễu uy hiếp bằng tàu chiến ở Biển Đông, nhưng Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh đã thân chinh đi tàu ra Trường Sa, đi kiểm tra tới từng đảo nổi, đảo chìm. Đó là một hành động rất có ý nghĩa, thể hiện bản lĩnh người cầm quân và trách nhiệm lớn lao trước non sông. Trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Nhà nước, đồng chí luôn giữ vững phẩm chất của một người cộng sản, sáng tạo, sắc sảo, quyết đoán và hành động quyết liệt trong công việc nhưng chân thành, giản dị, gần gũi với cấp dưới, với nhân dân.

Học tập tư tưởng trọng dân, thân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Đại tướng Lê Đức Anh luôn  kiên trì quan điểm: “Dựa vào dân, bám chắc vào dân mới vượt qua mọi khó khăn… Nhân dân không chỉ là người giúp đỡ, chở che, mà họ còn là nguồn sáng tạo vô tận” để chúng ta học tập. Thời kỳ làm Chủ tịch nước và thời kỳ làm Cố vấn, đồng chí Lê Đức Anh đã đi khắp mọi miền đất nước để tìm hiểu thực tế, từ đó có chỉ đạo sát sao, giải quyết kịp thời các vấn đề cấp thiết của nhân dân. Các chuyến đi của đồng chí rất giản dị, thân tình. Có lần về với bà con Cà Mau sau cơn bão gây thiệt hại nặng nề, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã từ chối đi theo tuyến đường đã định sẵn mà yêu cầu được về với bà con ở những vùng xa xôi, nơi đồng chí từng nằm hầm bí mật ở chiến trường Quân Khu 9 ở Cà Mau. Những chuyến đi thăm đó thật sự là chuyến đi về với dân và sống giữa lòng dân.

Là một vị tướng trận mạc, trải qua các cuộc kháng chiến, các mặt trận, đồng chí thấu hiểu sự khốc liệt của chiến tranh và dành tình cảm đặc biệt với đồng chí, đồng bào. Là Đại tướng, nhưng đồng chí luôn quan tâm, đối xử ân cần với cán bộ, chiến sĩ, không phân biệt cấp bậc, chức vụ. Đồng chí luôn trăn trở để tìm ra biện pháp nâng cao đời sống bộ đội và thân nhân của họ. Đồng chí đã đề nghị và được Bộ Chính trị chấp thuận việc phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng để tôn vinh, ghi công sự cống hiến của các mẹ cho nền độc lập dân tộc và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.

Trong công việc cũng như trong cuộc sống, đồng chí luôn là một người lãnh đạo, chỉ huy gương mẫu, nghiêm khắc với chính mình, dám đương đầu với mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Có thể nói, trọn cuộc đời mình, Đại tướng Lê Đức Anh đã dấn thân, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí sống mãi với non sông, đất nước.

Scroll to Top